Saturday, September 22, 2018

Ý kiến về Vinashin và khai thác bô-xít


Notice: Undefined index: tie_hide_meta in /var/www/html/wp-content/themes/sahifa/framework/parts/meta-post.php on line 3

Ý kiến về Vinashin và khai thác bô-xít

 

Bauxite và Vinashin
Nguyễn Vạn Phú
Thứ Năm, 28/10/2010, 10:30 (GMT+7) TBKTSG

Nhà máy Chế biến bauxite Tân Rai đang được xây dựng ở Tây Nguyên – Ảnh: Lê Quang Nhật.

(TBKTSG) – Giữa hai dự án bauxite ở Tây Nguyên và Vinashin có điểm gì chung?

Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta thử xem thông lệ quốc tế (và phần nào cũng đã được thể hiện trong dự thảo Luật Khoáng sản sửa đổi của Việt Nam) thường ứng xử như thế nào với nguồn khoáng sản của đất nước. Giả sử phát hiện ở một vùng đất có trữ lượng bauxite dồi dào, Nhà nước sẽ tổ chức đấu thầu thăm dò, việc thăm dò có thể gắn với quyền lợi khai thác sau này. Sau khi thăm dò, biết trữ lượng xong, Nhà nước sẽ cân nhắc coi có nên cho khai thác không với những yếu tố đặt lên bàn cân như môi trường, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội… Nếu quyết định khai thác, Nhà nước cũng sẽ tổ chức đấu thầu với đề bài là những yếu tố này, trong đó có thể bù đắp hiệu quả tài chính thấp bằng ưu đãi thuế nếu muốn phát triển vùng đất đó hay ấn định phần nộp cho Nhà nước cao nếu việc khai thác dễ dàng. Doanh nghiệp nào thỏa mãn tốt nhất những yêu cầu đặt ra sẽ trúng thầu và được quyền khai thác. Lúc đó, các cơ quan của Nhà nước sẽ đóng vai trò giám sát xem doanh nghiệp có tuân thủ cam kết, như cơ quan môi trường phải theo dõi chặt việc tuân thủ bảo vệ môi trường, ngăn ngừa thảm họa.

Việt Nam lại làm khác và yếu tố tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) là một doanh nghiệp nhà nước, lại là một tập đoàn kinh tế, đóng vai trò rất lớn trong chuyện làm khác này. Trong quyết định mới nhất chuyển TKV thành công ty TNHH một thành viên, Thủ tướng Chính phủ (và các bộ theo ủy quyền của Chính phủ) thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với tập đoàn này hay nói cách khác Thủ tướng Chính phủ là “ông chủ” trực tiếp của TKV và các bộ trưởng là “ông chủ” trong một số trường hợp. Trong một cơ chế như vậy, lúc kinh doanh, gặp trục trặc gì TKV sẽ được làm việc trực tiếp với Thủ tướng, liệu các bộ có còn đóng được vai trò cơ quan quản lý nhà nước một cách bình thường không? Các bộ khi đóng vai ông chủ có còn khách quan với doanh nghiệp “của mình” không? Vì thế không lạ gì khi ông Phạm Khôi Nguyên, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, lại đi khẳng định giùm chủ đầu tư hồ chứa bùn đỏ ở các dự án khai thác bauxite là bảo đảm an toàn.

Trường hợp Vinashin cũng vậy nhưng tình hình còn phức tạp hơn với hàng trăm công ty con, công ty cháu của Vinashin. Cứ tạm thời cho rằng đây là hai trong số 12 tập đoàn kinh tế của Nhà nước, được hưởng đặc quyền này, nhưng thế thì ứng xử ra sao với các công ty con, công ty cháu của họ? Công ty mẹ Vinashin đẻ ra tổng cộng 435 công ty con và công ty hạch toán phụ thuộc, 30 công ty liên kết và liên doanh. Chính vì cơ chế chủ sở hữu nhập nhằng giữa vai trò nhà quản lý hành chính và người đại diện vốn nhà nước nên các công ty này có vay mượn lung tung, có xin đất làm dự án trên giấy thì các bộ, các địa phương cũng e dè không dám làm gì, không dám lên tiếng phản đối. Thậm chí các công ty kiểu này còn tận dụng vị thế đặc quyền trong nhiều thương vụ để cuối cùng toàn bộ tập đoàn Vinashin gánh một khoản nợ khổng lồ như chúng ta đã biết. Chính Bộ trưởng Giao thông – Vận tải Hồ Nghĩa Dũng cũng thừa nhận trên báo Tiền Phong: “Chúng tôi chỉ được góp ý”. Trong bối cảnh như thế, Vinashin không báo cáo gian dối mới là chuyện lạ.

Nhiều người đã lên tiếng về nguy cơ tàn phá môi trường của các dự án bauxite ở Tây Nguyên. Cũng có nhiều người khác phân tích rạch ròi về tính kém hiệu quả kinh tế của chúng. Nhưng bài học quản lý Vinashin đang nóng hổi, nên áp dụng những điều có thể rút ra vào các dự án bauxite. Có lẽ thoạt tiên việc xây dựng ngành đóng tàu Việt Nam cũng là nhiệm vụ được Chính phủ giao cho Vinashin như hiện đang giao cho TKV khai thác tài nguyên bauxite. Việc bảo lãnh cho Vinashin vay vốn quốc tế cũng nhằm tạo sức mạnh tài chính cho Vinashin để nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ như hiện nay đang rót vốn cho TKV, nơi này cũng đang chuẩn bị phát hành trái phiếu quốc tế như Vinashin. Cách đây mấy năm, TBKTSG cũng đã đăng tải ý kiến của các chuyên gia phân tích lợi hại của việc phát triển ngành đóng tàu trong bối cảnh lúc đó. Những cảnh báo đưa ra vào thời điểm đó chỉ nhấn mạnh thiệt hơn mà chưa tính đến yếu tố cố ý làm sai của Vinashin.

Ngày nay chúng ta đang bàn về những điểm bất cập của các dự án bauxite (và chúng cũng đã đủ để ngưng các dự án này đến một thời điểm khác trong tương lai) nhưng liệu với cơ chế chủ sở hữu như trên, làm sao chúng ta có thể tin vào sự khách quan của Thứ trưởng Bộ Công Thương khi ông đồng thời là Chủ tịch Hội đồng thành viên TKV? Sự thiếu vắng giám sát đang là bài học của Vinashin, vậy nó có là bài học cho các dự án bauxite khi Bộ Tài nguyên và Môi trường xem như đứng chung với TKV để đưa ra những lý lẽ “trên lý thuyết” để ủng hộ dự án? Rồi đây TKV có chạy thẳng lên Thủ tướng hay lên bộ, bỏ qua các quy định quản lý mà luật pháp phân công cho địa phương, chẳng hạn? Và nếu thảm họa môi trường xảy ra, ai sẽ là người chịu trách nhiệm? Nếu giả sử quản lý kém để gây ra thua lỗ, ắt TKV vẫn sẽ yên tâm vì biện bạch là đang thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao.

Nhìn rộng ra, đã đến lúc phải xem lại cơ chế chủ sở hữu các tập đoàn kinh tế để làm sao phân định rạch ròi chuyện quản lý nhà nước và chuyện kinh doanh, cho dù là kinh doanh theo định hướng chiến lược của Nhà nước. Nếu không rồi đây chúng ta sẽ còn phải than như đang than: không có một đầu mối nào chịu trách nhiệm cả. Và Thủ tướng sẽ còn phải giải quyết núi công việc do các tập đoàn đưa lên – một chuyện thực tế đã cho thấy là không khả thi và đã không diễn ra.

Góp ý đại hội Đảng

Quản lý doanh nghiệp nhà nước nhìn từ Vinashin

Vẫn theo kiểu của nền kinh tế quản lý tập trung

SGTT.VN – Nếu coi thực tiễn là thước đo của chân lý, thì vụ Vinashin chính là một căn cứ không thể bác bỏ, để không chỉ đoạn tuyệt với vai trò chủ đạo, chi phối của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) bằng ý chí quyền lực nhà nước, mà quan trọng hơn, trả nó về đúng chức năng kinh doanh độc lập của nó.

Có nhiều bài học được rút ra từ sự kiện Vinashin. Ảnh: Mai Kỳ

Vai trò chủ đạo của DNNN không phải xa lạ, đã được khẳng định trong lý thuyết của nền kinh tế quản lý tập trung, từng thực hiện tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu cho đến lúc sụp đổ bởi nguyên nhân kinh tế của chính nó, còn ở ta buộc phải đổi mới bằng cách phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhưng tới nay vẫn giữ quan điểm kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo.

Quan điểm này bất chấp thực tế: Vinashin được dựng lên như một mô hình kỳ vọng làm “quả đấm thép” cạnh tranh thế giới bị đổ vỡ, và khối DNNN ngốn tới 50% tổng đầu tư xã hội, nhưng hiệu quả kinh tế thấp nhất, chỉ làm ra 31,5% tổng doanh thu doanh nghiệp toàn quốc (năm 2008), thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ chiếm 7% tổng thu ngân sách nhà nước, và tạo ra chỉ 4,4% việc làm toàn xã hội.

Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam: không giống ai

Không phải chỉ ta mới có DNNN mà ở mọi nước trên thế giới đều có. Nhưng khác hẳn với doanh nghiệp họ hoàn toàn độc lập, bình đẳng với bất kỳ doanh nghiệp thuộc thành phần nào, DNNN ta vốn là con đẻ của nền kinh tế quản lý tập trung, được lập ra để hoàn thành kế hoạch phân bổ từ trên xuống như pháp lệnh và hoạt động không vì mục đích lợi nhuận của chính nó. Do nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế, nên đại hội Đảng bộ Vinashin nhiệm kỳ 2005 – 2010 đã ra nghị quyết “xác định từ nay đến năm 2015 huy động được nguồn vốn khoảng 40.000 tỉ đồng đầu tư. Phát triển hệ thống cảng biển, vận tải biển, khai thác và chế biến dầu khí, hải sản, dịch vụ biển”. “Đảng uỷ Vinashin phối hợp hội đồng quản trị chỉ đạo tổng giám đốc và ban điều hành tổng công ty”. “Chủ tịch tập đoàn bổ nhiệm các tổng giám đốc các công ty con sau khi có ý kiến của Đảng uỷ” (Tạp chí Xây dựng Đảng online – 15.2.2007). Vậy là DNNN gánh cả chức năng chính trị và chịu sự chi phối của chính trị.

Về mặt nhà nước cũng vậy, Vinashin không độc lập mà đặt dưới quyền lãnh đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, từ bổ nhiệm nhân sự đến phê duyệt kế hoạch, vốn là điều không được phép ở các nước kinh tế thị trường đầy đủ, bởi chức năng của Thủ tướng là hành pháp, chứ không phải cấp trên của doanh nghiệp. Quyền lực nhà nước được định nghĩa là quyền lực công, sử dụng vào kinh doanh đồng nghĩa áp đảo doanh nghiệp thành phần khác, vi phạm nguyên lý cạnh tranh bình đẳng của nền kinh tế thị trường. Ta vẫn muốn dùng quyền lực nhà nước để làm kinh tế – vốn là bản chất của nền kinh tế quản lý tập trung, chứ không chịu để cho quy luật thị trường điều chỉnh – là bản chất của nền kinh tế thị trường.

Về cơ cấu nội tại, khác với các nước, DNNN ta coi chủ nhân là cán bộ công nhân viên chức, họ không phải người làm thuê, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ, và sự phối hợp của các đoàn thể. Ban giám đốc không làm theo hợp đồng mà được bộ nhiệm, hưởng lương theo chức danh chính quyền. Nghĩa là, DNNN cơ cấu và hoạt động như một đơn vị hành chính, một cấp nhà nước với đầy đủ các mối quan hệ nội tại, giữa dân (công nhân viên chức), chính quyền (cán bộ lãnh đạo), và Đảng (Đảng uỷ). Trong khi đó, DNNN trong nền kinh tế thị trường đầy đủ sinh ra chỉ để kinh doanh, nhà nước phải đảm bảo tính độc lập kinh doanh cho nó, chỉ mỗi công đoàn đại diện người làm thuê được phép hoạt động.

Do Vinashin cấu trúc như một cấp nhà nước, khi đổ vỡ muốn tìm nguyên nhân thì không thể từ Vinashin, mà phải từ thể chế nhà nước quyết định nó. Bởi ban giám đốc rốt cuộc cũng chỉ là người thừa hành. Họ phải xin ý kiến Đảng uỷ, Thủ tướng. Đến lượt Đảng uỷ và Thủ tướng cũng phụ thuộc các cấp Đảng và nhà nước liên quan. Không thể tìm ra một ai chịu trách nhiệm hoàn toàn với sự sụp đổ của nó như ở các nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ, bởi đơn giản họ không được toàn quyền, ngay cả khi bỏ chiếc áo vai trò chủ đạo của nó.

Nguyên nhân từ thể chế

Tuy vậy, không ít nhà khoa học, nhà lập pháp, hành pháp ở ta vẫn không thấy được nguyên nhân từ thể chế, để xoá bỏ hẳn cơ chế quản lý kinh tế tập trung đối với DNNN vốn là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ Vinashin và sự bất lực của các DNNN, mà vẫn cố tìm nguyên nhân cá nhân, để bảo vệ mô hình đó. Đến chủ nhiệm uỷ ban Kinh tế Quốc hội Hà Văn Hiền cũng cho rằng, nguyên nhân sụp đổ Vinashin là do “không có cơ quan nhà nước nào làm đầu mối, chịu trách nhiệm chính, mà bị phân khúc, chia cắt… Phải chỉ ra một cơ quan có chức năng chịu trách nhiệm chính… mới có chỗ để quy kết trách nhiệm”. Nghĩa là vẫn muốn dùng quyền lực nhà nước để làm kinh tế – vốn là bản chất của nền kinh tế quản lý tập trung, chứ không chịu để cho quy luật thị trường điều chỉnh – là bản chất của nền kinh tế thị trường.

Việc thay đổi tư duy trên quả khó, bởi người ta không chịu chấp nhận tính độc lập kinh doanh của DNNN cùng thực tế đó trên thế giới, cứ nghĩ cái gì của nhà nước, thì nhà nước phải và được quyền chỉ huy, bảo lãnh. Ở các nước, doanh nghiệp của nhà nước, hay của bất cứ ai, đều được coi là nơi kinh doanh sinh lợi nhuận trả cho người góp vốn và là nơi lao động tạo ra giá trị, trả lương cho nhân công, được hiến định. Mọi doanh nghiệp bất kể của ai, vì vậy hoàn toàn độc lập tự do như công dân, không có cấp trên, bình đẳng cùng chung sự điều chỉnh của văn bản luật áp dụng cho loại hình của nó, không phân biệt chủ sở hữu. Loại hình cơ bản mà nhà nước tham gia là doanh nghiệp cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn. Doanh nghiệp cổ phần độc lập với cả chủ góp vốn, do giám đốc toàn quyền điều hành và làm đại diện, chịu trách nhiệm chế tài trước pháp luật đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp, làm việc và trả lương theo hợp đồng ký kết có thời hạn với chủ góp vốn. Chủ tịch hội đồng quản trị là người đại diện cho chủ sở hữu có chức năng bảo đảm lợi ích của chủ góp vốn, thuê và giám sát ban giám đốc thực hiện các điều khoản trong hợp đồng đã ký kết, chứ không phải cấp trên. Tuy tổng giám đốc độc lập thật, không có cấp trên, nhưng không phải là vua, mà phải chịu sự điều chỉnh của mọi văn bản lập pháp có liên quan, được giám sát bởi các cơ quan thi hành luật pháp. Họ phải phát hiện được sai phạm của doanh nghiệp, nếu không chính họ phải chịu trách nhiệm về hậu quả doanh nghiệp gây ra, nhất là với thuế vụ, kiểm toán, quản lý thị trường, bảo vệ người tiêu dùng…

Hiến pháp Đức, chẳng hạn, còn quy định: thủ tướng, các bộ trưởng, thứ trưởng không được phép làm giám đốc bất cứ doanh nghiệp gì, và không được tham gia hội đồng quản trị mà không có chuẩn thuận của quốc hội – đó cũng chính là giải pháp thực hiện nguyên lý tách rời quản lý nhà nước ra khỏi quản trị kinh doanh. Nếu Vinashin hoạt động trong môi trường như thế thì tổng giám đốc chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự sụp đổ của nó, giống như tổng thống, thủ tướng phải chịu trách nhiệm với đất nước họ, chẳng phải tìm kiếm đâu.

Chừng nào chưa từ bỏ tư duy của nền kinh tế quản lý tập trung, không chủ động tạo ra khung pháp lý kinh tế thị trường đầy đủ, thì chừng đó không thể thay đổi được bản chất cố hữu trước kia của DNNN, vốn là một trong những nguyên nhân từng làm sụp đổ Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, và đừng kỳ vọng bất cứ “quả đấm thép“ nào, nếu không muốn trở thành nạn nhân của chính nó. (Ở đây chưa bàn đến động cơ cố níu giữ DNNN theo cơ chế cũ của các nhóm lợi ích đặc quyền đặc lợi cố kết với nó, đang là trở ngại nặng nề nhất cho công cuộc đổi mới nhằm đuổi kịp thế giới hiện nay. Cũng chưa kể quan niệm vẫn coi công hữu là đặc trưng của CNXH, trong khi thế giới hiện chỉ dùng nó để đánh giá mức độ đầy đủ của nền kinh tế thị trường, nhằm áp thuế chống phá giá rất bất lợi cho những nước như ta, lẽ ra cần sáng suốt, tìm cách tránh).

TS NGUYỄN SỸ PHƯƠNG, CHLB ĐỨC

Check Also

Hàng ngàn người bị tính phí thẻ ghi nợ hai lần do các trục trặc

Hàng ngàn người trên khắp Vương quốc Anh đã bị tính phí hai lần cho …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *