Tin trong báo Hội những năm 1990

Tin trong báo Hội những năm 1990

MỪNG QUỐC KHÁNH VIỆT NAM TẠI ANH,  GẮN TẤM BIỂN TƯỞNG NIỆM CỐ CHỦ

TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI LUÂN  ĐÔN: Trong tháng 9-1991, như hàng năm,

Ngày Quốc khánh Việt Nam đã được kỷ niệm tại Unity House, Euston

Road và Đại sứ quán Việt Nam tại Luân-đôn, thành phần tham dự hai

cuộc gặp  mặt nói trên có  nhiều khuôn mặt mới.  Số người tham dự

lên hơn một trăm người cho mỗi nơi. Vào ngày 17-10-1991, tấm biển

tưởng niệm cố  Chủ tịch Hồ Chí Minh với  dòng chử bằng tiếng Anh:

“Hồ Chí Minh  1890-1969 người thành lập nước Việt  Nam hiện đại đã

làm việc  vào năm 1913 tại  Khách sạn Carlton tại  địa điểm này”.

Khánh  thành tấm  biển có  Đại sứ  Việt Nam  Châu Phong, Dân biểu

Chris Mullin, Chủ tịch Hội Anh  Việt, Lord Hugh Jenkins of Putney

và một số nhân vật khác có cả đài thruyền hình… Khách sạn Carlton

ngày nay  là New Zealand House,  Đại sứ quán của  Tân Tây Lan tại

Anh ở đường Hay Market, nơi  này chỉ cách Trafalgar Square độ hơn

100 mét, là nơi có đông đảo du khách đến viếng thăm hàng năm.

 

QUYÊN GÓP  GIÚP ĐỒNG BÀO TRONG  NƯỚC: Trong những tháng  gần đây,

Hội và các cá  nhân hội viên đã quyên góp được  125 bảng Anh giúp

trường mù Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội. Một số tiền khác cũng đã được

quyên góp để trùng tu một chùa  tại Hà Nội và giúp trại cuì Bến

Sắn, tỉnh Sông Bé.

 

BAN CHẤP HÀNH  MỚI: Trong tháng 9- 1991, Ban  chấp hành Hội Người

Việt Nam  tại Anh đã  được bầu lại  gồm các anh  Bảo, Ích, Khánh,

Nguyễn, chị  Nhung, chị Toán, anh  Tứ. Anh Nguyễn có  trách nhiệm

phối hợp  các hoạt động trong  Ban chấp hành. Bác  Vinh đảm nhiệm

biên tập báo Hướng Về Nguồn.

 

HỘI NGƯỜI VIỆT  NAM TẠI PHÁP, nơi có nhiều  người Việt Nam cư trú

nhất tại  Châu Âu, đã họp  đại hội trong tháng  11-1991 và bầu ra

một ban điều hành 18 người, một ban thư ký 8 người.

 

ĐƯỜNG BAY  ĐI VIỆT ANM MỚI  TỪ HONG KONG :  Kể từ ngày 17-12-1991

hàng tuần có thêm hai chuyến bay  Hong Kong – Hà Nội và ngược lại

(thứ tư và thứ bảy hàng tuần) và hai chuyến bay Hong Kong – TP Hồ

Chí Minh  ( thứ hai và  thứ năm hàng tuần)  của Cathay Pacific và

Hàng Không Việt Nam.

 

 

NGƯỜI HOA TRỞ LẠI THƯƠNG TRƯỜNG

 

Tối thứ Bẩy 19/1O, đài truyền hình Channel 4 đã chiếu một

phim tài liệu về Trung quốc và Việt Nam. Phim dài một tiếng đồng

hồ, nửa giờ nói về các sinh viên Trung quốc sau vụ gọi là “thảm

sát Thiên An Môn” và nửa giờ sau về cuộc gập gỡ mấy nhà tân triệu

phú ở Việt Nam.

    Phim về Việt Nam do các nhà sản xuất phim ở Thành phố Hồ Chí

Minh thực hiện. Việt Nam gập rất nhiều khó khăn về kinh tế sau 3O

năm chiến tranh, sau những trận ném bom dữ dội và rải thuốc khai

quang của Mỹ, rồi lại còn bị Mỹ cho thi hành chính sách cấm vận

đối với Việt Nam. Hiện nay Việt Nam còn bị Liên Xô cắt viện trợ

và phải mua hàng của Liên Xô trả bằng ngoại tệ mạnh và theo giá

thị trường. Để thoát ra khỏi những khó khăn về kinh tế, Việt Nam

đã theo đuổi con đường Đổi Mới từ cuối năm 1986 hướng về kinh tế

thị trường với khẩu hiệu “Đổi mới để tiến lên”. Nhiều tư nhân đã

xông ra làm ăn buôn bán cạnh tranh với quốc doanh và một số người

đã trở nên giàu có.

    Ba nhà tân triệu phú được giới thiệu trong phim “Những ông

chủ mới” là Trần Đức Nam, Minh Phụng và Vưu Khải Thành.

 

Ông Trần Đức Nam là chủ xưởng may đồ xuất khẩu mang tên

SAIGON. Là quân nhân của chế độ cũ, ông đã phải đi học tập cải

tạo ba năm. Trong thời gian đầu mới được tha về, ông phải chật

vật hết sức trong cuộc mưu sinh. Năm 1983, hai vợ chồng ông mua

một cái máy may cũ hiệu Youth để làm hàng gia công. Từ một máy

may đẻ ra 1O máy và nay đẻ thành 3OO máy. Dự tính của vợ chồng

ông là cố gắng phát triển công cuộc làm ăn gấp ba hoặc bốn làn.

Hiện ông đang cho xây cất thêm xưởng, tăng thêm trang bị để có

thể thâu nhận thêm khỏang 5OO công nhân nữa. Đã có thêm đơn đặt

hàng của Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Nam Triều Tiên v.v…

Kim ngạch xuất khẩu năm nay của hãng ông lên tới 2 triệu đôla.

Vốn của ông là một triệu đô.

 

Nhưng nếu ông Nam là chủ của 3OO công nhân thì ông Minh Phụng

lại là chủ của 5OOO công nhân. Tổ hợp Minh Phụng có 18 phân

xưởng, vốn đầu tư trên 3 triệu đô la, và cũng chuyên may đồ xuất

khẩu. Xuất thân nghèo hèn, ông Minh Phụng làm nên giàu có nhờ tài

kinh doanh của ông và cũng nhờ … gập may. Điểm đặc biệt ở ông

Minh Phụng là ông hết lòng chăm lo cho đời sống công nhân giúp

việc cho ông như trả lương phù hợp với sản phẩm, bảo hiểm tuổi

già, bệnh tật, giúp đỡ trong việc tang gia, cưới hỏi, tổ chức cho

đi chơi Vũng Tàu, Đà Lạt những ngày nghỉ, có tiền thưởng cuối năm

cho những công nhân tiên tiến. Ông còn luôn luôn lo đào tạo tay

nghề. Được hỏi, một nữ công nhân cho biết khi mới vào làm tháng

5/199O, cô lãnh được 1OO.OOO đồng tiền lương một tháng. Nay tiền

cô lãnh được là từ 12O.OOO tới 18O.OOO đồng. (Nếu qui ra đôla

theo tỉ giá hiện nay là khoảng từ 12 tới 18 đô). Ông Minh Phụng

cũng dự tính phát triển xí nghiệp để có được số công nhân là

lO.OOO người trong vài năm tới.

 

Ông Vưu Khải Thành là giám đốc Hợp tác Xã Bình Tiên gọi tắt

là BITI, ở Chợ Lớn, chuyên sản xuất giầy dép cao-su. Ông Thành,

người Việt gốc Hoa, vốn là một chuyên gia về cao-su. BITI là xí

nghiệp đầu tiên của Thành phố Hồ Chí Minh được phép xuất khẩu

trực tiếp. Ông Thành đã từng đi tham quan Hong Kong, Thái Lan,

Đài Loan và đã học hỏi được thêm nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp.

Hãng của ông nay được trang bị toàn máy móc hiện đại nên đã đánh

bại được giầy dép nhập lậu từ Thái Lan và còn xuật khẩu sang Nhật

Bảm, Ý, Pháp, Hà Lan, Đài Loan và nhiều nước khác. Vốn ban đầu là

do tích lũy được từ 1983, sau đó do bà con của chính ông và của

các công nhân trong hãng từ Mỹ, Canada gửi về giúp thêm. Để phát

triển thêm BITI một cách mau lẹ, ông đã quyết định liên doanh với

một cộng ty Đài Loan là công ty Sơn Quán. Ông có kế hoạch đưa hợp

tác xã thành một công ty trách nhiệm hữu hạn. Cơ ngơi của BITI

nay trị giá 3 triệu đôla.

    Cả ba nhà tân triệu phú Trần Đức Nam, Minh Phụng và Vưu Khải

Thành đều cho biết họ không sợ chuyện bị quốc hữu hóa. Họ tin

rằng chính phủ Việt Nam nhất định sẽ không trở lại con đường mòn

cũ đã từng làm cho nền kinh tế Việt Nam bị bế tắc, trì trệ. Họ

hài lòng với mô hình tư doanh mà họ cho là có hiệu quả kinh tế

hơn, ngoài ra họ còn gíup chính phủ giải quyết phần nào nạn thất

nghiệp mà họ biết đang là mối lo của nhà nước.

 

Nhân chuyện ông Vưu Khải Thành, người Việt gốc Hoa, được giới

thiệu là một trong những nhà triệu phú mới của Việt Nam, tưởng

cũng nên tìm hiểu thêm về việc người Hoa xuất hiện trở lại trên

thương trường Việt Nam.

    Trước 1975, ở Việt Nam có khoảng 1 triệu rưỡi người Hoa phần

lớn sống tập trung ở các tỉnh phía bắc giáp ranh Trung quốc, đặc

biệt là ở Quảng Ninh, và ở miền nam tập trung tại khu vực Chợ

Lớn.

    Thời Pháp thuộc, với chính sách chia để trị cố hữu của thực

dân (như họ đã từng gây chia rẽ Trung Nam Bắc), người Hoa đã được

nâng đỡ để trở thành một cộng đồng cách biệt với người Việt Nam.

Người Hoa được dùng để đi thu mua lúa gạo ở miền quê để xuất khẩu

và bán lẻ các mặt hàng nhập khẩu từ Pháp. Họ được phép quản lý

những công việc riêng của họ và được có đại diện giao thiệp

thẳng với nhà cầm quyền Pháp. Như vậy là họ trở thành một thứ

trung gian giữa người Pháp thống trị và người Việt Nam bị trị.

    Năm 1955-57, sau khi thực dân Pháp bị đánh bật ra khỏi Việt

Nam, chính phủ miền Bắc và Trung quốc đã đạt được một thỏa thuận

theo đó người Hoa được đặt dưới quyền hạn của Việt Nam và dần dần

hội nhập xã hội Việt Nam. Người Hoa được làm bất cứ ngành nghề

nào họ muốn, được gia nhập chính quyền, trở thành sĩ quan chỉ huy

trong quân đội Việt Nam, được gia nhập đảng cộng sản Việt Nam,

được quyền ứng cử và có thể được bầu vào Quốc hội Việt Nam.

    Ở miền Nam, chính phủ của ông Ngô Đình Diệm cấm người Hoa làm

một số ngành nghề nếu họ không chịu nhận quốc tịch Việt Nam. Khi

Mỹ can thiệp vào Việt Nam và đổ đôla cùng hàng hóa vào miền nam

Việt Nam, một số người Hoa đã trở nên giàu sụ một cách mau chóng.

Họ nắm giữ tới 8O% mọi hoạt động kinh tế ở miền nam. Đã xuất hiện

những người Hoa được mệnh danh là Vua đồng, Vua sắt vụn, Vua

xi-măng, Vua bột ngọt, Vua dây thép gai, Vua lúa gạo … Nhiều

người Việt có quyền thế đã “ăn có” với người Hoa để trở nên giàu

có.

    Năm 1975, chiến tranh chấm dứt, đất nước thống nhất, Mỹ không

còn đổ tiền đổ của vào Việt Nam, công việc làm ăn của người Hoa

bắt đầu xuống dốc. Khi mạng lưới quốc doanh mở rông, nhiều cơ sở

kinh doanh của người Hoa – và cả người Việt – phải đóng cửa. Sau

mấy lần đổi tiền. và đặc biệt là sau chiến dịch đánh tư sản phát

động vào tháng 3/1978, nhiều người Hoa trở thành vô sản mặc dầu

họ có thể còn giấu được nhiều vàng và đôla. Quan hệ Việt Nam –

Trung quốc xấu đi khi Pol Pot cho quân đánh phá và quấy nhiễu dọc

biên giới tây nam của Việt Nam. Khoảng 16O OOO người Hoa đã bỏ về

Trung quốc trong năm 1978 này. Tháng 2/1979, Trung quốc tung quân

sang đánh Việt Nam gọi là “để dạy cho Việt Nam một bài học”. Thêm

một số đông người Hoa ào ạt bỏ đi, nhưng lần này không đi về

Trung quốc mà lại tìm đường sang các nước Đông Nam Á, như Thái

Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, nơi đã có 2O triệu kiều

bào của họ làm ăn sinh sống rất khá giả. Một số đi Pháp, Mỹ, Úc,

Canada và Anh.

    Theo bản kiểm tra dân số năm 1989, ở Việt Nam hiện nay có

khoảng 96O OOO người Việt gốc Hoa, chừng 8O% sinh sống ở miền nam

với gần 38O OOO người tại Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung đông

nhất trong khu Chợ Lớn. Ở Hà Nội chỉ còn không đầy 1O OOO người

so với 34 OOO cách đây mười năm.

    Kể từ Đại hội 6 họp cuối năm 1986 đưa ra chủ trương đổi mới

với việc cho phép tư nhân làm ăn trở lại, ngày càng thêm nhiều

người Hoa bỏ vốn ra kinh doanh trong lãnh vực sản xuất hoặc

thương mại. Nhiều người đã trở nên giàu có. Trường hợp ông Vưu

Khải Thành không phải là độc nhất. Còn có ông La Công Nguyên đứng

đầu một nhóm người Việt gốc Hoa hùn vốn lập công ty xây cất Việt

Hoa để xây cất lại khu chợ An Đông thành một khu năm tầng dự kiến

hoàn tất vào tháng 1O này. Công trình xây cất này trị giá 5 triệu

Mỹ kim và là một trong những dự án lớn nhất thành phố Hồ Chí Minh

được thực hiện với số vốn đầu tư của một nhóm người Việt gốc Hoa.

Trước 1975, ông La Công Nguyên là một thương gia giàu có, sau bị

phá sản phải dâng hiến mấy xưởng máy cho Nhà Nước và chỉ mới trở

lại thương trường mấy năm gần đây.

    Với chính sách Đổi Mới, Việt Nam khuyến khích người Hoa làm

ăn trở lại trừ ngành xuất khẩu thóc gạo và ngân hàng. Một vài nhà

máy gạo của người Hoa bị quốc hữu hoá trước đây đã được trả lại

cho chủ. Một số người Hoa bỏ đi nước ngoài trước đây đã trở về để

kinh doanh. Nhiều người đã được phép xuất cảnh nay lại đổi ý xin

ở lại không đi nữa. Vốn làm ăn của người Hoa phần nhiều do thân

nhân ở nước ngoài gửi về trợ giúp, đặc biệt là ở Đài Loan, Hong

Kong, Singapore và cả ở Mỹ, Canada. Người Hoa ở trong nước còn

“mách nước” và đứng ra lo phần thủ tục cho các doanh nhân ở Đài

Loan, Hong Kong, Singapore muốn đầu tư vào Việt Nam. Hiện nay

trong số 32 nước đã đầu tư vào Việt Nam, Đài Loan đứng đầu sổ với

39 dự án trị giá hơn 5OO triệu Mỹ kim, Hong Kong đứng hàng thứ

nhì với 😯 dự án trị giá trên 35O triệu Mỹ kim.

    Việc người Hoa xuất hiện trở lại thương trường Việt Nam là

một tín hiệu đáng mừng cho thấy họ đã thực sự tin tưởng chính

sách đổi mới và tình hình ổn định ở Việt Nam. Người Hoa vốn có

tài kinh doanh lại dễ huy động vốn nên sẽ đóng góp hữu hiệu vào

công cuộc phục hồi và phát triển kinh tế của Việt Nam sau bao năm

bị trì chệ. Nhưng chắc họ sẽ không trở lại được ngôi vị độc tôn

về kinh tế như trước đây vì họ sẽ gập phải sức cạnh tranh mãnh

liệt của các doanh nhân người Việt đông đảo hơn … nếu người

Việt biết đoàn kết và bảo được nhau.

 

CHÀNG  LÊ

 

Chuyện nước Anh

 

Thế là cuộc bầu cử tại Anh sẽ không diễn ra vào tháng 11 năm

nay như nhiều người tiên đoán mà sẽ chỉ diễn ra vào năm tới.

Không phải đích thân Thủ tướng John Major loan báo tin này mà là

ông đã để các cộng sự viên thân tín của ông xì hơi ra. Được thể,

ông Neil Kinnock,lãnh tụ đảng Labour, liền huyênh hoang tuyên bố

là đảng của ông Major đã sợ thua bỏ chạy nhưng chạy đâu cho thoát

vì cùng lắm là đến tháng 7 sang năm cũng phải tổ chức tổng tuyển

cử thôi.

 

Tranh cử chưa chính thức bắt đầu mà coi mòi mấy đảng đã đấu

đá nhau khá dữ dội tại Quốc hội cũng như trên vô tuyến truyền

thanh, truyền hình và báo chí. Thôi thì đủ thứ chuyện nào đối

nội, đối ngoại và đặc biệt là trong vấn đề y tế, khám bệnh và

chữa bệnh. Đảng Labour tố là đảng Conservatives đang mưu toan tư

nhân hóa các bệnh viện khiến đảng này phải cải chính chối chết và

tố ngược lại là đảng Labour đã dùng thủ đoạn hù dọa dân chúng

Anh, nhất là những người có bệnh.

 

Đảng Labour còn tố đảng Conservatives lem nhem trong vấn đề

tiền bạc, chẳng hạn như đã nhận tiền ủng hộ của các “tài pản”

nước ngoài như của ông John Latsis, nhà tỉ phú công ty tầu biển

Hy Lạp; của Sir Yue-Kong Pao, tỉ phú ở Hong Kong, thường là bạn

đánh Golf của Sir Denis Thatcher (chồng bà Thatcher); của Asil

Nadir đang phải ra tòa về vụ công ty Polly Peck, và cả của Ngân

Hàng BCCI vừa bị sụp đổ. Đảng Conservative phủ nhận chuyện nhận

quà cáp của Ngân hàng BCCI và ông Chris Patten, Chủ tịch đảng

Conservative, cũng tố lại là năm 1987 Tổng Công Đoàn Vận Tải Anh

đã ủng hộ đảng Labour nhiều tiền hơn là tổng số tiền các công ty

đã ủng hộ cho đảng Conservative.

 

Đấu đá nhau về tiền bạc chưa xong thì ông già Edward Chapman,

81 tuổi, thân phụ cô Ann Chapman, một nhà báo tự do bị sát hại

cách đây 2O năm mà nghe nói là do lệnh của Hội đồng Quân nhân Hy

Lạp, đã lên tiếng phản đối việc đảng Conservative nhận 2 triệu

bảng Anh của ông John Latsis là người hậu thuận cho Hội đồng Quân

nhân đã ra lệnh sát hại con gái ông. Còn Sir Yue-Kong Pao, xuất

thân không đồng xu dính túi mà sau trở nên tỉ phú ở Hong Kong với

số tài sản ước chừng 1 ngàn 3OO triệu đô-la Mẽo thì vừa mới qua

đời hồi tháng 9 vừa qua, thọ 72 tuổi. Lẽ dĩ nhiên ông chết rồi

nên không ai biết được ý kiến của ông về chuyện này.

 

Cũng nằm trong chiến dịch tranh cử, sau cuộc chính biến 6O

giờ tại Liên Xô, ông John Major đã làm một vòng quanh mấy nước

trong số có … Trung quốc. Để xoa dịu những người phản đối

chuyến đi Trung quốc này vì họ còn nhớ rõ những gì xẩy ra ở Thiên

An Môn, ông Major đã mạnh miệng tố nhà cầm quyền Bắc Kinh về

thành tích nhân quyền của nước này. Và ông Lý Bằng, Thủ tương

Trung quốc, đã đáp lại : Trung quốc là một nước đang phát triển

với dân số hơn một tỉ người. Nhân quyền đối với chúng tôi là làm

sao cho có đủ ăn trước đã. Ông Lý Bằng còn lôi lịch sử ra để nói

rằng nhân dân Trung quốc đã từng bị các cường quốc bên ngoài đè

nén, áp chế và làm nhục trong hơn một thế kỷ sao không thấy ai

nói đến nhân quyền. Có người cho rằng ông John Major đừng nên vì

muốn giải quyết vài vấn đề ở Hong Kong mà sang thăm Trung quốc

sau vụ Thiên An Môn. Chuyến thăm Bắc Kinh đầu tiên của một lãnh

tụ phương Tây cỡ ông John Major đã làm tăng uy tín Trung quốc,

nếu không nước này đã chẳng nể lời ông mà tha cho Luo Haixing,

một doanh nhân Hong Kong bị kết án tù 5 năm hồi tháng Ba về tội

tìm cách giúp cho hai tên phản cách mạng vụ Thiên An Môn trốn đi

nước ngoài.

 

Đảo lộn lớn nhất trong lịch sử 36 năm truyền hình thương mại

của Anh đã xẩy ra hồi trung tuần tháng 1O khi bốn công ty của ITV

bị mất đặc quyền truyền hình trong một cuộc đấu thầu khiến nhiều

chương trình mà dân Anh ưa thích có thể tiêu tùng luôn. Điều

nghịch lý là có những công ty bỏ thầu cao hơn lại thua công ty bỏ

thấp hơn mà lý do là vì Ủy hội Truyền hình Độc lập cho rằng

chương trình, kế hoạch của họ đề ra không thực tế và không thể

làm được. Như hãng TVS bỏ thầu cao nhất với giá 59 triệu bảng

một năm lại thua hãng Meridian Broadcasting chỉ bỏ có 36 triệu.

 

Bà Thatcher nhận bà có phần lỗi trong việc hãng TV-am bị mất

giấy phép. Chả là vì hồi còn làm Thủ tướng, quyết tâm đổi mới khu

vực truyền hình thương mại của bà đã dẫn đến phương cách đấu thầu

này. Trong thư gửi cho ông giám đốc TV-am – nơi con gái bà là

Carol làm việc – bà đau lòng nhìn nhận trách nhiệm của mình. Lập

tức ông giám đốc TV-am cho công bố lá thư ấy lên làm bà Thatcher

mất mặt, và rồi ông lại xin lỗi bà Thatcher vì đã làm bà mất mặt.

Cứ thế mà hai người sorry đi và sorry lại. Hai tiếng đầu tiên

người Việt mình học được khi mới tới Anh là THANK YOU và SORRY.

Còn những tiếng khác như chửi thề chẳng hạn thì học sau cũng

chẳng muộn. Còn ở đây lâu thế nào chẳng có dịp được nghe và được

dùng.

 

Cũng vẫn chuyện bà Thatcher nhưng là về bộ hồi ký cuả bà. Các

báo Anh ra ngày 16-1O cho hay sau gần một năm mà cả đi mà cả lại,

nay bà Thatcher đã bằng lòng bán bộ hồi ký của bà cho nhà xuất

bản HarperCollins do ông Rupert Murdoch làm chủ. Bộ hồi ký sẽ gồm

hai tập. Tập đầu dự tính cho xuất bản vào cuối 1993 nói về 11 năm

rưởi cầm quyền của bà, tập nhì nói về cuộc đời của bà trước 1979.

Nghe đâu tiền bản quyền nhà HarperCollins trả cho bà là từ 4

triệu tới 5 triệu bảng Anh.

 

Vì tiền bản quyền nhiều như thế nên các chính khách và nhân

vật tên tuổi trên thế giới đã đua nhau viết hồi ký. Bà Raisa, vợ

ông Gorbachev, Tổng thống Liên bang Xô Viết đang vật lộn để giữ

lại cái liên bang của mình, cũng đã viết hồi ký. Ngay cả ông

Yeltsin, Tổng thống Liên hiệp Nga, đang lúc chính phủ Nga gập

tang gia bối rối vì hai ông bộ trưởng từ chức và trong nước đang

có đe dọa biểu tình, đình công, cũng lấy nghỉ hai tuần để …

viết hồi ký. Chẳng biết hồi ký của ông Yeltsin sẽ bán được bao

nhiều, liệu có cao giá hơn hồi ký của các tướng lãnh và chính

khứa Việt Nam không ?

 

Tháng 9 vừa qua đã xẩy ra một số vụ bạo loạn của thanh thiếu

niên tại một số đô thị của Anh như tại Oxford, Tyneside … Hàng

trăm thanh thiếu niên đã kéo nhau xuống đường chọi nhau với cảnh

sát. Có một số cửa hàng bị cướp phá, một số nhà bị đốt cháy…

Nhìn cảnh tượng hỗn loạn ấy trên màn ảnh truyền hình, có người

mường tượng đến cảnh diễn ra ở Thiên An Môn. Điều khác nhau là ở

đây không có xe tăng, súng lớn súng nhỏ mà chỉ có những toán cảnh

sát chống bạo động tay cầm dùi cui, núp sau những tấm lá chắn

bằng nhựa. Dường như các vụ bạo loạn này có dính đến cái trò gọi

là “joyriding” tức là lấy xe của người khác lái đi chơi nhong

nhong, lái nhong nhong chán rồi thì lái thi đua xem ai thắng ai

trước sự cổ võ của một số người xem. Đã có tai nạn xẩy ra làm vài

người chết và có cả cảnh sàt bị thương khi dùng xe đuổi bất họ.

Cảnh sát can thiệp là bạo động bùng nổ.

 

Những tin bạo loạn ấy được đăng trên trang đầu của nhiều nhật

báo lớn và cũng đã gây ra chuyện lời qua tiếng lại giữa nhà cầm

quyền với giáo hội Anh. Chả là ông George Carey, Tổng giám mục

Canterbury, cho là những vụ bạo lọan ấy có liên quan đến tình

trạng suy đồi ở các thành phố, nhà ở tồi tàn xập xệ, thanh thiếu

niên bị xã hội bỏ bê, thất học, thất nghiệp và nghèo khó. Lập tức

ông John Major và chính phủ của ông phản pháo liền. Những vị này

lên án những vụ bạo động cho đó là hành động của một số phần tử

xấu, vô kỷ luật và vô trật tự, những hành động tội ác chống phá

cộng đồng.

 

Ông Kenneth Baker, Bộ trưởng Nội vụ, còn nêu lên vấn đề trách

nhiệm của các bậc phụ huynh khi trong số những người bị bắt giữ

có khá đông trẻ em. Ông cho rằng lúc ấy đừng có hỏi “Cảnh sát đâu

? mà phải hỏi : “Cha mẹ chúng nó đâu ?” Ông Baker còn lên án việc

dùng từ “Joyriding” có hàm ý dung dưỡng cho bọn ăn cắp xe, một

tội ác thường đưa đến tai nạn chết người. Ông còn muốn nâng hình

phạt dành cho bọn “joyriders” từ 6 tháng lên tới hai năm tù.

 

Theo báo cáo của Bộ Nội Vụ ngày 13-9 thì trong 12 tháng qua

tính tới tháng 6-91, mức tội ác đã tăng 18 phần trăm với gần 5

triệu vụ vi phạm chia ra : 4.6 triệu vụ (94%) xâm phạm tài sản,

256 OOO vụ (5%) xâm phạm an ninh thân thể, tội ác tình dục, và

trộm cắp. Số còn lại 33 OOO vụ (l%) là tội ác thuộc các loại linh

tinh. Già nửa tổng số vụ tội ác ghi nhận được là ăn cắp xe hay ăn

cắp đồ để trong xe (l.4 triệu vụ hay 29%) hay ăn trộm có bẻ khoá

(1.1 triệu vụ hay 23%).

 

Theo số liệu của cơ quan Kiểm tra Dân số thì trong 1O em tuổi

từ 11 tới 15 vẫn có một em hút thuốc lá đều đều mặc dầu chính phủ

đã mở một chiến dịch chống hút thuốc từ 1O năm nay nhắm vào lớp

tuổi này. Khoảng 17 triệu điếu thuốc mỗi tuần đã được các em

thuộc lớp tuổi này tiêu thụ ở Anh (England), 85O OOO điếu ở

Wales, và 1 triệu rưỡi điếu ở Scotland.

 

Cứ trong 5 gia đình thì nay có một gia đình do một mẹ hay một

cha đứng đầu và tỉ số gia đình chỉ có một mẹ đứng đầu đã tăng

khoảng 5O phần trăm trong vòng ba năm qua. Do số ly dị, ly thân

hay “không chồng mà chửa mới ngoan” gia tăng nên hiện nay có trên

1.25 triệu bậc cha hoặc mẹ một mình nuôi con. Người Anh gọi họ là

“lone parent”.

 

Theo số liệu của Hội chơi Video Anh (British Videogram

Association) thì có hơn 2 triệu hộ gia đình ở Anh có hai máy

video trong nhà và họ chi mỗi ngày sơ sơ có gần l triệu rưỡi Anh

kim tiền thuê phim video. Vì chưa có số liệu riêng cuả cộng dồng

người Việt nên không biết người Việt mình đã chi tiêu bao nhiêu

tiền mỗi ngày để thuê phim chưởng Hong Kong và Đài Loan.

 

Trong khi ấy thì tin của Age Concern (Hội lo cho người già)

cho hay có khoảng 6 OOO bô lão trên ngũ tuần thuộc loại vô gia cư

ở Luân Đôn, sống vất vưởng trên vỉa hè hay trong các hostels,

trong đó có vài người đã sống không nhà như vậy từ năm 1945 kia

lận.

 

Nước Anh rất tự do dân chủ nhưng cũng rất chuộng đạo đức luân

lý. Chẳng thế mà Sir Allan Green. Uỷ viên công tố hàng đầu của

Anh. đã phải từ chức sau khi bị cảnh sát bài trừ tệ đoan xã hội

bắt gập quả tang đang láng cháng với hai ả gái điếm trong khu đèn

đỏ sau nhà ga King Cross hồi gần 11 giờ đêm 2-1O-91. Một ả nói

với cảnh sát là đã từng thấy ông già này ở đây. Thế là Sir Allan

Green tiêu tan sự nghiệp 32 năm trong nghề bảo vệ công lý và luật

pháp. Nhiều người cho rằng đó là chuyện riêng tư của ông không

liên can gì đến cái thành tích trong sạch trong nghề nghiệp của

ông, nhưng nhiều người khác lại không nghĩ như vậy. Bộ trưởng nội

vụ Kenneth Baker cũng cho rằng đó là một thảm kịch cá nhân, nhưng

cũng nói rằng việc ông Green từ chức là một điều phải. Sir Allan

Green năm nay 56 tuổi, có vợ và hai con.

 

Nhưng tại sao Sir Allan Green lại nửa đêm láng cháng đến khu

đèn đỏ ấy làm gì để mà mang họa như vậy ? Bác sĩ Neil McKegany

thuộc ban nghiên cứu sức khoẻ công cộng đại học Glasgow cho rằng

đi tìm thỏa mãn sex một cách lén lút có cái thú và khoái cảm

riêng của nó. Nhiều người còn đi để được phục vụ theo những kiểu

cọ riêng mà vợ hay girl-friends của họ không chịu làm. Lena, một

gái điếm ở khu King Cross cho biết khách hàng của ả thuộc đủ mọi

hạng người, nhưng đa số là những người đã có vợ con đàng hoàng,

thuộc hạng tuổi trung niên, sống cuộc sống mẫu mực và trong sạch

đứng đắn.

 

Ả Lena còn tâm sự với nhà báo Ian Katz về nghề nghiệp của ả.

Sau khi ngã giá xong, ả dẫn khứa vào một bãi đậu xe dưới gậm cầu.

“Thường chỉ 8 phút thôi” ả nói. “Nếu quá 1O phút thì em đòi thêm

tiền”. Với giá 25 bảng, khứa được giải quyết bằng tay và bằng mồm

trong bóng tối sân sau nhà để xe. Ả không làm “full sex”. Ả

thường lao động về đêm, từ 7 giờ tối đến l giờ sáng. Chừng 5 hay

6 khứa một đêm, mỗi khứa 25 bảng là ả có thể kiếm được 15O bảng

ngon lành. Nhưng ả cũng gập cạnh tranh. Nhiều đứa cần tiền xì-ke

ma túy đã đánh sụt giá xuống còn 2O bảng. Lena có học. 17 tuổi,

với bẩy O levels, ả bỏ Liverpool lên Luân Đôn làm việc. Rồi thất

nghiệp, nghiện ngập, cần tiền, ả phải …

 

Bây giờ đến chuyện đứng đắn hơn nhưng có thể làm buồn lòng

người tị nạn và di dân. Số là Toà án châu Âu ngày 3O-1O-91 đã

phán quyết bất lợi cho 5 người Tamil bị hành hạ ngược đãi ở Sri

Lanka sau khi họ không được Anh quốc cho tá túc và trả về Sri

Lanka. Toà bác bỏ khiếu nại của họ chống lại Bộ Nội Vụ Anh vì Bộ

này không cho họ được quyền kháng cáo trước khi trả họ về nước.

Các luật sư bênh vực cho mấy người Tamil này cho rằng Toà án châu

Âu đã để bị ảnh hưởng của bầu không khí chính trị đang lan tràn ở

châu Âu chống người tị nạn và di dân.

 

Quả thật vậy, một phong trào chống người tị nạn, di dân và

người ngoại quốc nói chung đang bùng lên ở nhiều nước châu Âu. Ở

Pháp, cựu tổng thống Valery Giscard dnói dân nhập cư vào

Pháp đang biến thành kẻ xâm lăng. Ngày 15-1O, một toà án Pháp xử

phạt và xử tù 16 tên tân quốc xã về tội tổ chức những trận tấn

đánh bằng bom vào dân di cư người Ả Rập làm một người thiệt mạng

và 19 người bị thương.

 

Ở Tây Ban Nha, tinh thần chủng tộc dâng cao khi phụ huynh học

sinh tẩy chay các trường học ở Catalonia và Andalusia để phản đối

việc cho phép dân “gypsies” ghi tên vào học.

 

Ở Thụy Điển là nước trước đây đã theo đuổi chính sách phóng

khoáng nhất thế giới về người tị nạn nay cũng thấy xoay chiều.

Năm 199O Thụy Điển chấp nhận 3O OOO đơn xin tị nạn. Năm nay chỉ

nhận không đầy 15 OOO. Bọn tân phát xít đã ném bom xăng vào các

trung tâm tiếp cư người tị nạn và đã viết các khẩu hiệu trên

tường “Hãy giữ cho Thụy Điển là của người Thụy Điển”.

 

Nhưng ác nhất có lẽ là ở Đức. Trong những tháng gần đây hầu

như ngày nào cũng xẩy ra những vụ hành hung người nước ngoài, đốt

phá những nơi người tị nạn và di dân trú ngụ. Chị Hoàng thị Vinh,

32 tuổi, có mang sáu tháng, bị 9 thanh niên bịt mặt đấm đá tàn

nhẫn trong phòng khách nhà chị ở Dresden. 5OO người Đức tụ tập

bên ngoài một trung tâm người tị nạn và ném bom săng vào trong.

Khoảng 1OO tên skinheads giao chiến với một số thanh niên tả

khuynh lái một đoàn xe từ Berlin tới để bảo vệ các trung tâm tị

nạn. Tinh thần kỳ thị chủng tộc có nhiều ở Tây Đức hơn ở Đông

Đức. Ở Đông Đức 77 phần trăm dân chúng nói là họ không có cảm

tình với bọn phân biệt chủng tộc còn ở Tây Đức chỉ có 6l phần

trăm. (GUARDIAN 23-9). Theo Bộ Nội Vụ Đức thì 75 phần trăm trong

số 271 vụ đốt phá và 134 vụ tấn công vào người nước ngoài ở Đức

trong năm nay là do đám choai choai dưới 2O tuổi – có đứa mới 12

tuổi – làm. Hầu hết các vụ tấn đánh này xẩy ra ở Tây Đức.

(GUARDIAN 29-1O)

 

Còn ở Anh thì sao ? Kết quả một cuộc nghiên cứu điều tra cho

biết 45 phần trăm dân Anh tin rằng họ rất khác với các dân tộc

khác. Kết quả ấy cho thấy nước Anh là một trong những nước ở châu

Âu có tính bài ngoại nhất, chỉ sau Ba Lan và Ý mà thôi. Đấy là

nói về sách vở, còn trên thực tế người Anh có thích người nước

ngoài hay không thì chắc mỗi người chúng ta đều đã có nhận xét

riêng rồi rút từ kinh nghiệm bản thân của mỗi người.

 

Sau cùng là một chuyện có liên quan đến con heo Việt Nam (heo

thật chứ không phải heo theo nghĩa bóng). Nhật báo GUARDIAN 9-1O

đăng một tin ngắn : Những người nuôi heo xề Việt Nam làm vật

cưng sẽ bị phạt 2OOO bảng Anh nếu họ vi phạm những điều lệ đã

được Bộ Nông nghiệp công bố ngày hôm qua. Những con heo này, được

nuôi trong nhà và dắt đi chơi như dắt chó, có thể có vi khuẩn gây

nguy hại tới đàn vật nuôi với mục đích thương mại. Chủ heo phải

xin giấy chứng nhận nơi nhà cầm quyền địa phương, phải xích ngoài

cửa và chỉ được phép cho heo đi dạo cho bớt cuồng cẳng theo những

lộ trình đã được chấp thuận. Heo cưng có thể bị thủ tiêu trong

những trường hợp vi phạm nặng nề điều lệ. Không biết đích xác ở

Anh có bao nhiêu heo cưng, nhưng phỏng đoán cũng có thể có tới

nhiều ngàn.”

 

Đọc xong tin trên, một thằng cha xi-ních cười hô hố nói :

“Nếu heo Việt Nam cho sang đây nhiều và trở thành hết “cưng”,

không biết chúng có bị cưỡng bức hồi hương không ?” Rõ thật thằng

cha thối mồm, ăn nói lãng nhách. Phỉ thui!

 

PHI   NHÂN

 

VUI  BUỒN  TRONG  CỘNG  ĐỒNG

 

ANH

 

Ông Trần Quang Hải, nhạc sĩ và nghiên cứu gia về giọng, đã

được mời tham dự Đại hội nghiên cứu về giọng (Voice therapy) do

hội về giọng nói Anh quốc (British Voice Association) cùng với

Hội biểu diễn nghệ thuật y khoa Anh quốc (British Association for

Performing Arts Medicine) tổ chức tại đại học y khoa University

College & Middlesex School of Medicine ở Luân Đôn từ 26 đến

29-6-91. Tại Đại hội, ông Hải được trao giải thưởng cao qúy là

Ferens Price 1991. Ông là người châu Á đầu tiên đươc nhận giải

thưởng này. Tiểu sử ông Hải được ghi vào WhoWho in the World

1991-92, Mỹ.

 

Nhân tuần lễ Việt Nam, thư viện Kentish Town (Bắc Luân Đôn)

cho chiếu phim “Cô Gái Trên Sông” do đạo diễn Đặng Nhật Minh thực

hiện, vào tối thứ năm 10-10-91. Có khá đông người Anh tới xem.

Phim “Cô Gái Trên Sông” đã được đài 4 (Channel 4) cho chiếu đêm

29-9-91 trong chương trình giới thiệu điện ảnh Việt Nam gọi là

“Mùa phim Việt Nam”.

 

NHẬT

 

Cộng đồng Phật tử Việt Nam tại Nhật đã quyết định thành lập

Hội Phật giáo Việt Nam tại Nhật và thỉnh mời Đại đức Thích Chân

Lễ (tị nạn đến Nhật hai năm trước) làm hội chủ, hiện đang ráo

riết chuẩn bị đại hội tại chùa Risoho Kosikai Ofuna ngày 22-9 để

chính thức bầu ban trị sự Hội Phật giáo Việt Nam tại Nhật.

 

Giao lưu văn hóa cấp dân sự giữa Việt-Nhật đang phát triển

mạnh. Từ 1989, tại Saigon đã thành lập Trung tâm Văn hóa

Việt-Nhật với trường Nhật ngữ Sakura do bà Harachie N.T.Thủy

trông coi. Trường này hiện có khoảng 4OO học viên và vừa mở thêm

một cơ sở mới tại Hà Nội. Tháng 6-91, anh Nguyễn Đức Hoè, cựu

sinh viên du học, cựu trưởng cư xá Đông Du ở Tokyo đứng ra

thành lập Trung tâm Nhật ngữ Đông Du ở Thành phố Hồ Chí Minh,

hiện thu nhận khoảng 2OO học viên, học một ngày 5 giờ, học phí

chùng 😯 OOO đồng VN/tháng. Một trong những mục tiêu chính của

Trung tâm là đưa người sang du học hay làm việc tại Nhật.

 

Khoảng giữa năm nay,chính phủ Nhật cho biết có thể thu nhận

2 OOO người Việt sang làm việc tại các hãng xưởng tư nhân. Phía

Việt Nam cũng đồng ý trên nguyên tắc, và đây là một chương trình

mới tùy thuộc mức độ thâu nhận của các nghiệp đoàn Nhật. Theo

tiến trình này, người đặt chân đến Nhật nếu có sẽ là vào khoảng

giữa năm 1992.

 

NẠN BĂNG ĐẢNG VÀ BẠO HÀNH

 

Người Việt ở Cali độ này hơi ngán đi ăn ở các hàng quán

Việt Nam vì sợ bị vạ lây. Như vừa rồi, vào lúc l giờ rưỡi đêm,

cảnh sát đã phải đến quán Thanh Hải bắt giữ 19 thanh niên và tịch

thâu hai khẩu súng lục. Theo nhật báo Register lớn nhất ở Quận

Cam (Orange County) thì quán này nổi tiếng hay có băng đảng người

Việt tụ tập và thường xảy ra đánh nhau. Tệ trạng băng đảng này

trầm trọng đến nỗi cảnh sát San Jose đã phải bỏ ra 18 tháng để

hoàn thành một cuốn album dán hình ảnh của 43O du đãng Việt Nam

để cho các nạn nhân của các vụ cướp của giết người có thể nhận

dạng. Theo VNTP số 377 (từ 1 đến 15-1O-91) thì “đại đa số những

tên này tuổi từ 18 đến 25, vô gia cư, vô nghề nghiệp. Một số là

những tay chân, thủ hạ của những tổ chức chính trị mờ ám, hoạt

động dưới danh nghĩa kháng chiến, phục quốc, chống cộng mà thực

ra chỉ là những tên chuyên nghề làm tiền, sách nhiễu người dân

lành hoặc khủng bố các cơ sở thương mại của người Việt ở

California.”

 

Theo PNDĐ số 93 (từ 1 đến 3O-1O-91) thì nhà chức trách liên

bang và cảnh sát New York đã mở hai cuộc đột kích và bắt giữ 1O

người đàn ông trong đó có David Thái, 35 tuổi, được cho là lãnh

tụ của băng “Born to kill” (Sinh ra để giết) có khoảng 5O-1OO

đoàn viên nam nữ tuổi 13 đến 35, với các chi nhánh tại New

Jersey, Los Angeles và Texas. Băng này chuyên bán đồng hồ giả

loại đắt tiền, tống tiền, cướp bóc và giết người. Các chủ tiệm

dọc đường Canal Street, từ đường La Fayette đến đường Church,

mỗi người phải đóng hụi chết từ 1OO đến 6OO đôla mỗi tháng, còn

người buôn bán lẻ trên lề đường thì phải đóng từ 2O đô trở lên

hàng tuần cho bọn này. Khi bắt David Thái, cảnh sát còn tịch thu

được nhiều súng tay, ống hãm thanh và vật liệu để làm chất nổ.

Trong sân nhà Thái có đậu một chiếc xe Jaguar kiểu mới nhất.

 

Theo báo Register ngày 29-6-91 thì hồi 11g4O sáng ngày

28-6-91, tiệm vải Thanh Minh trên đường Bolsa (trung tâm Saigon

Nhỏ) bị hai tên cướp Việt có võ trang xông vào lấy súng uy hiếp

bà chủ tiệm là bà Võ Thị Lý. Anh Nguyễn Quý Đức, 36 tuổi, con

giai bà Lý mở được hộc bàn giấy lấy được súng ra bắn một tên cướp

bị thương nặng và tên kia chết tại chỗ.

 

Theo nhật báo Dân Chủ và các báo Việt khác ra ngày 1O-8-91

ở Mỹ thì sau nhiều tháng theo dõi, nhân viên an ninh Mỹ đã ập vào

chợ An Đông ở đường Westminster thuộc Saigon Nhỏ, tịch thu một số

tiền mặt là 28 OOO đô mà tiệm này đã thu được trong ngày về dịch

vụ bán số đề (căn cứ theo số trúng của vé số lotto của tiểu bang

Cali được xổ vào hai ngày thứ 4 và thứ 7 mỗi tuần). Bà Ngô Hương,

chủ chợ, và người làm công bị bắt, một số tang vật bị tịch thu để

đưa ra tòa về tội cờ bạc bất hợp pháp. Sở cảnh sát ước lượng mỗi

ngày chợ An Đông phải thu vào khoảng 4O OOO đola tiền số đề.

 

Khỏang 12g3O khuya ngày 15-7-91, một vụ án mạng đã xảy ra

tại một ngôi nhà ở Beaver Food thuộc vùng Woodbridge, Virginia,

mà nạn nhân là bà Claire Marrot, 39 tuổi, vợ ông Jean Marrot, 38

tuổi, và cô Nguyễn Kim Hường, 2O tuổi, bị bắn chết. Cả ba đều là

người Việt Nam. Bà Claire là chủ tiệm uốn tóc Hair Performers còn

cô Hường là người làm việc tại tiệm. Ông Jean Marrot đã bị bắt

giữ để điều tra.

 

Một bọn cướp xông vào một tư gia bắt trói bà già giữ trẻ và

lục soát lấy đồ đạc trong nhà. Chúng còn kéo bà già đến bồn rửa

mặt, dùng nuớc và sà-phòng để lôi vuột cho được chiếc nhẫn ra

khỏi ngón tay. 5 nghi can người Việt bị bắt, tuổi 18-19, trong đó

có một em mới 15 tuổi. Cảnh sát đã tịch thu ba súng ngắn, thu hồi

một số nữ trang.

 

Một thanh niên Việt khoảng 2O tuổi đã bị bắn chết trong

công viên Central Park ở Huntington Beach. Tiếng súng nổ được

nghe thấy sau 1 giờ sáng sau khi nạn nhân, hung thủ và 2 người

khác cãi nhau ở đây. Nghi can giết người tên Trần Vĩnh Thụy, 19

tuổi, cư ngụ tại Westminster đang bị truy lùng.

 

Vũ Văn Hùng, 34 tuổi, thủ phạm giết anh Nguyễn Văn Hoa, 27

tuổi, và hãm hiếp một thiếu nữ 19 tuổi tại Van Nuys ngày 29-1-91

đã bị bắt hồi tháng 5-91 và bị đưa ra toà Van Nuys ngày 25-7-91

để bị truy tố về tội sát nhân.

 

Vừa rồi, toà án quận Cam đã tuyên án hai anh Nguyễn Minh và

Nguyễn Thiện ở Westminster, một người 25 năm tù đến chung thân

khổ sai về tội dùng súng bất hợp pháp, người kia 26 năm tù và

thêm một án chung thân khổ sai về tội lái xe qua một con đường ở

Santa Ana và đã vô cớ bắn chết em Pedro Hernandez, 12 tuổi, và làm

bị thương em David Sanchez. Dường như hai anh này nghiện ma túy,

đi tìm mua ma túy không được nên đã nổi sùng nổ súng bắn bừa bãi.

 

Theo một bài báo của Jim Good phỏng vấn một du đãng Việt

Nam thì vì không có gia đình, anh em nào ở Mỹ nên hắn rất cô đơn.

1O năm sống ở Mỹ, trong đó 5 năm trong tù. Hắn theo chúng bạn rủ

rê đi ăn trộm rồi ăn cướp. Hắn cho biết một số tù nhân Việt Nam

đã bị các tù nhân Mỹ (nhất là người Mễ) giết ngay trong tù. Một

số bị hiếp dâm và loạn dâm rồi phát điên. Hắn cho biết đa số các

du đãng Việt Nam rất lạc lõng, không thích hợp được với cả hai

thế giới Mỹ và Việt.

 

Trên đây chỉ là một số chuyện về tệ nạn băng đảng và bạo

hành trong cộng đồng người Việt sống ở nuớc ngoài đọc thấy trong

các báo xuất bản ở Mỹ. Kể thêm ra sợ thành nhàm chán và có khi

còn làm mất vui bạn đọc nên tạm thời xin ngừng ở đây.

 

PHÚC  AN

 

 

SAU CUỘC ĐẢO CHÍNH 6O GIỜ TẠI LIÊN XÔ

 Lịch sử đã sang trang

 

Cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Gorbachev chỉ tồn tại

được có 6l giờ thì tan rã như bọt bóng sà-phòng, nhưng đã để lại

một hậu quả vô cùng tai hại cho đảng cộng sản Liên Xô và cho

chính Liên bang Xô Viết.

 Cuộc đảo chính bắt đầu lúc 3 giờ 18 phút (giờ GMT) sớm ngày

Thứ Hai 19-8-91 cùng với lời loan báo là vì Tổng thống Gorbachev

“thánh thể bất an” nên Phó Tổng thống Gennady Yannayev lên cầm

quyền thay. Sự thực thì lúc ấy ông Gorbachev đã bị giam lỏng tại

tòa nhà nghỉ mát của ông ở Crimea.

 Những người cầm đầu cuộc đảo chính tuyên bố tình trạng khẩn

trương trong 6 tháng và thành lập một ủy ban khẩn trương tám

người do Phó tổng thống Yanayev đứng đầu và gồm có cả Thủ tướng

Liên Xô Valentin Pavlov, Bộ trưởng Quốc phòng Dimitri Yazov, Bộ

trưởng Nội vụ Boris Pugo,và người cầm đầu cơ quan mật vụ KGB là

Vladimir Kryuchkov.

 Uỷ ban chiếm giữ phát thanh và truyền hình, đóng cửa tất cả

các báo trừ tám tờ, cấm biểu tình và ban hành lệnh giới nghiêm.

 Xe tăng di chuyển qua khu trung tâm Moscow nhưng không chiếm

được tòa nhà quốc hội Nga và từ tòa nhà này Tổng thống Nga, ông

Boris Yeltsin,kêu gọi một cuộc tổng bãi công và đòi phải tái lập

ông Gorbachev. Những người ủng hộ ông Yeltsin tập hợp sau các

hàng rào chướng ngại vật và có tin công nhân đã lãng công tại một

số mỏ than.

 Quân đội tăng cường kiểm soát tại các nuớc cộng hoà Baltic,

đóng cửa đài truyền hình Latvia, phong tỏa bến cảng Tallinn và

kiểm soát các trung tâm truyền thông khác. Một người lái xe

minibus bị bắn chết tại Riga, thủ đô Latvia, và là người đầu tiên

trong số 15 người bị thiệt mạng trong cuộc rối loạn này.

 Tin đảo chính đưa ra lập tức bị ngay dư luận quốc tế chống

đối. Các nước trong Cộng đồng châu Âu cho đông lạnh ngay viện trợ

kinh tế và Tiệp Khắc cho ngay quân tiến ra biên giới giáp Liên

Xô.

 Thứ Ba, đông đảo dân chúng biểu tình ở Moscow và Leningrad

chống đảo chính. Nga và Ukraine tuyên bố các quyết định của uỷ

ban khẩn trương là vô giá trị. Estonia và Latvia biểu quyết độc

lập hoàn toàn. Buổi tối, có tin chia rẽ trầm trọng trong đám cầm

đầu cuộc đảo chính mà lý do là vì không kiếm được hậu thuẫn trọn

vẹn của đảng cộng sản và vì không thống nhất được ý kiến là có

nên dùng quân đội tấn công tòa nhà quốc hội Nga không.

 Sáng Thứ Tư, đám đảo chính bắt đầu tan rã. Những người cầm

đầu ủy ban khẩn trương bị bắt giữ khi tìm cách dời khỏi Moscow.

Về sau có tin ông Pugo, Bộ trưởng Nội vụ tự sát. Bộ Quốc phòng ra

lệnh rút hết quân khỏi thủ đô. Chiến xa và thiết vận xa cũng rút

khỏi các vị trí trong các nước Baltic.

 4 giờ l4 phút chiều Thứ năm 22-8-91, quốc hội Xô Viết tái lập

ngôi vị tổng thống của ông Gorbachev đã bay từ Crimea về Moscow.

 

Những người cầm đầu cuộc đảo chính đều là những người tin cẩn

của ông Gorbachev được ông cất nhắc lên. Họ thuộc thành phần bảo

thủ, thất vọng và bất mãn trước những kết quả của chính sách

glasnost và perestroika do ông đưa ra. Trong con mắt họ, những

chính sách và quyết định của ông Gorbachev chẳng thấy làm cho nền

kinh tế Liên Xô đi lên mà chỉ thấy làm đi xuống thêm, làm suy yếu

đảng, làm đảng mất uy tín và uy quyền, làm rối loạn trật tự xã

hội, làm mất ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Âu, làm Liên Xô đang từ

một siêu cường ngang hàng với Mỹ bỗng tụt xuông hàng thứ yếu, và

nguy hơn nữa là còn có thể làm tan vỡ liên bang Xô Viết nếu để

ông Gorbachev ký với các nuớc trong liên bang một thỏa hiệp dành

cho họ nhiều quyền tự trị hơn. Vì thế trước ngày ông Gorbachev ký

thỏa hiệp đó, phe bảo thủ đã cho giam lỏng ông và tung ra cuộc

đảo chính.

 Cuộc đảo chính thất bại vì những người cầm đầu lượng định sai

tình hình. Họ không ý thức được rằng trong 6 năm glasnost và

perestroika, người dân đã được phép phê phán việc làm của nhà

nước (tức đảng) và đảng viên được phép phê phán lẫn nhau mà không

sợ bị trù giập nên nhiều đảng viên thuờng không có đặc quyền đặc

lợi đã mạnh miệng phê phán những đảng viên có đặc quyền đặc lợi.

Uy thế và uy quyền của đảng xuống dốc mau chóng sau 7O năm người

dân Nga bị khoá mồm khoá miệng. Đảng suy yếu hẳn. Từ 2O triệu

đảng viên hồi cách đây hai, ba năm, truớc đảo chánh chỉ còn có 15

triệu hay ít hơn. Số đảng viên còn lại sống trong tình trạng

hoang mang không còn tin tưởng vào đảng như trước nên khi đảo

chính xẩy ra đa số đóng vai khách bàng quan, không cứu ông

Gorbachev mà cũng không theo phe đảo chính. Quân đội cũng không

bắn vào dân chúng. Còn dân chúng, dù không hài lòng với kết quả

công cuộc đổi mới, họ cũng nhất định không chịu trở về trật tự cũ

mà họ biết chắc sẽ không làm cho đời sống của họ tốt đẹp hơn. Họ

không theo phe đảo chánh.

 Tình trạng hoang mang bất định còn thấy ngay trong đám cầm

đầu phe đảo chính. Họ không cùng một quyết tâm, không nhất trí

được với nhau về bất cứ việc gì và dường như cũng không biết rõ

việc mình làm … trừ một hai người chủ mưu.

 Theo lời kể lại của Venyamin Yarin, một thành viên Xô Viết

Tối cao và là cố vấn của Tổng thống Gorbachev vẫn trung thành với

tông thống thì ông Gennady Yanayev, phó tổng thống, người được

coi là lãnh tụ số l của phe đảo chính, đã say khướt từ lúc bắt

đầu cuộc đảo chính và lúc bị bắt cũng vẫn say khướt.

 Theo ông Vladimir Shcherbakov, một phó thủ tướng, thì dường

như tất cả mọi người đã bị Tướng Kryuchkov, trùm mật vụ KGB, lừa.

Ông này nói là đang có một âm mưu nổi loạn và loạn quân đang tập

hợp ở nhiều nơi trong thủ đô. Ông khẩn cấp kêu gọi các nhân viên

nội các đến ngay điện Kremlin để họp Hội đồng An ninh tìm cách

đối phó. Tới nơi, moị người mới được biết thêm là Tổng thống

Gorbachev bị bệnh nặng, đau tim hay đứt gân máu gì đó, đang trong

tình trạng hôn mê không hiểu biết gỉ cả.

 Thế là ngay đêm chủ nhật đó mọi người lập uỷ ban cứu quốc 8

người được công bố vào tảng sáng thứ hai. 6 giờ chiều họp nội

các. Thủ tướng Pavlov nhắc lại là tính mạng các nhân viên nội các

vẫn bị đe dọa vì cái gọi là cuộc nổi loạn vũ trang đó. Ông có vẻ

tin vào điều ông nói, nhưng thái độ của ông vẫn làm sao ấy giống

như người chịu ảnh hưởng của rượu hay thuốc an thần. Ông hay lẩm

ba lẩm bẩm một mình. Qua ngày hôm sau thì có tin ông mệt nặng,

không tiếp tục công việc được nên ông Doguzhiyev, một phó thủ

tướng khác, thay thế.

 Đấy nội tình những người cầm đầu phe đảo chính là như vậy thì

cuộc đảo chính làm sao thành công được. Khi thấy dân chúng không

ủng hộ, đa số đảng viên không tiếp tay, quân đội không chịu bắn

vào nhân dân, đám cầm đầu tự nhiên rã đám, mạnh ai người nấy tìm

đường tẩu thoát, nhưng thoát làm sao được. Tất cả đều bị bắt. Ba

người tự sát. Bộ trưởng nội vụ Boris Pugo tự sát bằng súng. Cố

vấn quân sự của ông Gorbachev, Sergei Akromoyeev, tự treo cổ

trong một văn phòng ở Điện Kremlin. Quản trị viên Trung ương đảng

Nikolai Kruchina lao mình qua cửa sổ, để lại mấy chữ : “Tôi không

phải là tội phạm. Tôi là một thằng hèn.”

 Hành động xuẩn ngốc của bọn cầm đầu cuộc đảo chính đã đem lại

hậu quả vô cùng tai hại cho chính đảng cộng sản và liên bang Xô

Viết mà họ muốn cứu vớt. Sau cú đảo chính 6O giờ đó, Quốc Hội Xô

Viết treo giò đảng cộng sản là đảng đã nắm độc quyền lãnh đạo đất

nước từ năm 1917. Tài sản của đảng bị niêm phong và mọi hoạt động

của đảng phải ngưng lại cho tới khi hoàn tất cuộc điều tra vể vai

trò của đảng trong cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tông thống

Gorbachev. Chính ông Gorbachev cũng từ chức Tổng bí thư đảng và

khuyến cáo Uỷ ban trung ương đảng tự giải tán. Lợi dụng cơ hội

rối ren đó, nhiều nước cộng hỏa trong Liên bang Xô viết tuyên bố

độc lập đe dọa sự sụp đổ của toàn thể liên bang.

 Việc đảng cộng sản mất quyền cai trị ở Liên Xô đánh dấu sự

cáo chung của một thời đại. Đó là thời đại đảng cộng sản Liên Xô

chi phối thế giới cộng sản trong hơn 7O năm. Cho tới gần đây,

khoảng 1 tỉ 6OO triệu người – trên một phần tư nhân loại – sống

dưới sự cai trị của các chính phủ cộng sản. Nhưng từ cuối thập

niên 198O, đảng cộng sản lần lượt mất quyền ở các nước Đông Âu.

Ba Lan, Đông Đức, Hungary, Tiệp Khắc, Bulgaria, Nam Tư và Romania

tất cả đều mở cửa cho chính phủ đa đảng.

 Cuộc đảo chính bất thành còn cho thấy rõ nét hơn cuộc tranh

giành quyền hành giữa ông Yeltsin với ông Gorbachev. Ông

Gorbachev là Tổng bí thư đảng từ 1985. Là lãnh tụ đảng, ông muốn

dùng ngay đảng làm một công cụ để thay đổi Liên Xô nhưng ông đã

vấp phải sự phá hoại ngầm của những phần tử bảo thủ trong đảng.

Ông Yeltsin và ông Shevardnadze trước đây là những người thân tín

của ông được ông cất nhắc lên những chức vụ cao, nhưng khi thấy

ông Gorbachev quá “nể nang” phe bảo thủ không dám thi hành nhũng

chính sách cải cách mạnh mẽ, hai ông đã quay ra chỉ trích ông

Gorbachev nặng nề. Cả hai ông đều rút khỏi đảng do ông Gorbachev

lãnh đạo. Ông Yeltsin còn có lần lớn tiếng đòi ông Gorbachev từ

chức. Ông Shevardnaze từ chức Bộ trường ngoại giao trong chính

phủ của ông Gorbachev.

 Ông Gorbachev là tổng thống liên bang tức chính phủ trung

ương. Ông Yeltsin là tổng thống liên hiệp Nga, bang lớn nhất

(diện tích 6 triệu rưỡi dặm vuông), dân số đông nhất (145 triệu,

chiếm khoảng nửa số dân trong toàn liên bang), giàu nhất nhờ có

nhiều tài nguyên thiên nhiên. Ông Yeltsin muốn thấy các bang được

rộng quyền tự trị, ít lệ thuộc vào Trung ương, kể cả quyền được

tự do rút khỏi liên bang nếu họ muốn. Nếu các bang được rộng

quyền tự trị, quyền của trung ương sẽ giảm bớt, thực quyền sẽ là

vào tay người nào nắm giữ được nước Nga là bang lớn nhất và mạnh

nhất. Chưa chi đã có người nói tới sự phục hồi của “đế quốc Nga”.

 Ông Gorbachev bị kẹt giữa hai sức ép. Phe bảo thủ trong đảng

còn mạnh. Nhiều người còn giữ những chức vụ then chốt trong guồng

máy hành chính, kinh tế, quân đội, công an, mật vụ. Phe cấp tiến

của Yeltsin thì lại lớn tiếng và được sự hẫu thuẫn của quần

chúng. Khi bị Yeltsin và Shevardnase bỏ rơi và chống lại, ông

Gorbachev quay ra tìm hậu thuẫn của phe bảo thủ và chính

những người trong phe bảo thủ được ông tin dùng cất nhắc lên đã

tổ chức đảo chính để lật đổ ông. Thế là ông bị hai lần phản bội,

lần đầu là phe cấp tiến và lần sau là phe bảo thủ, nhưng lần sau

có sự đe dọa tới tính mạng của ông.

 Sau cuộc đảo chính, ngôi sao của ông Gorbachev đi xuống còn

ngôi sao của ông Yeltsin lại đi lên. Ông Yeltsin được coi như ân

nhân đã cứu mạng sống của ông Gorbachev, được coi là một con

người dũng cảm đã trực diện đương đầu với phe đảo chính có súng

đạn trong tay, là một vị anh hùng của Liên Xô. Ông đã thừa thắng

xông lên như tại phiên họp quốc hội Nga ngày 23-8-91 ông đã có ý

hạ nhục ông Gorbachev khi buộc ông Gorbachev phải miễn cưỡng chấp

nhận những người do ông bổ nhiệm vào chính phủ Xô Viết, vào các

cơ quan an ninh của nhà nuớc Xô Viết, và đặc biệt là khi ông đưa

chính người của ông ra làm tổng tư lệnh quân đội Xô Viết.

 Ông Yeltsin không có cơ sở pháp lý để xen lấn vào những công

việc của chính phủ Liên bang cũng như ông không có cơ sở pháp lý

nào để ra lệnh giải tán các tổ đảng trong lực lượng võ trang Liên

Xô tại Nga hay tịch thu những tài sản của Liên bang tại Nga.

Nhưng ông cố ý làm vậy là để làm mất mặt ông Gorbachev khi biết

đối thủ chính trị của ông đang ở thế yếu. Ông Yeltsin muốn chứng

tỏ cho mọi người thấy chính ông mới là người có uy quyền thực sự.

 Nhưng ông Yeltsin cũng đang gập khó khăn hiện nay. Ông bị

nhiều người chỉ trích là chỉ mạnh miệng nói chứ không làm được

bao nhiêu. Bộ trưởng kinh tế và bộ trưởng môi sinh vừa từ chức

sau khi ông nghỉ hai tuần lễ để viết hồi ký về cuộc đảo chính 19

tháng 8. Trước những lời chỉ trích ấy ông đã phải gồng mình lên

đem cái tương lai chính trị của ông bỏ vào canh bạc khổng lồ là

tự đứng ra đảm nhiệm việc thực hiện chương trình cải cách với

liều lượng thật mạnh để cứu nguy nền kinh tế của Nga đang trên đà

sụp đổ.

 Ông cảnh giác mọi người là chương trình cải cách của ông về

thả lỏng giá cả, cải cách ruộng đất, tư nhân hoá mau lẹ nền kinh

tế sẽ làm sút giảm mức sống khiến nhiều người phải đau khổ nên

ông thiết tha kêu gọi mọi người hãy thông cảm những khó khăn

trong thời kỳ chuyển tiếp sang một nền kinh tế giá cả thị trường.

Ông không chỉ định một thủ tướng để thi hành cải cách mà sẽ tự

đứng ra cầm đầu chính phủ và xin được thêm quyền hạn thành lập

chính phủ mà không phải xin quốc hội chấp thuận. Tại phiên họp

Đại hội đại biểu nhân dân ngày 28-1O, ông nói : “Đây là quyết

định quan trọng nhất trong đời tôi.”

 Trong khi ấy thì Tổng thống Gorbachev tái xuất hiện lần đầu

tiên trên chính trường quốc tế sau cuộc đảo chính l9-8 khi ông

đến dự Hội nghị hoà bình Trung Đông họp tại Madrid. Đứng cạnh

Tổng thống Mỹ, ông George Bush, ông Gorbachev không còn thu hút

được sự chú ý đặc biệt của hàng triệu, hàng triệu khán thính giả

đài truyền hình như hồi trước đảo chính, mặc dầu ông dõng dạc

nói: “Tôi vẫn còn là Tổng thống. Chưa ai chiếm chỗ của tôi cả.”

 

Tương lai Liên Xô sẽ như thế nào, chưa ai có thể trả lời dứt

khoát được. Nhưng cũng đã có người như giáo sư Myron Rush, dạy

môn chính phủ tại đại học Cornell, cho rằng đảng cộng sản Xô Viết

vẫn có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì một

tình trạng ổn định chính trị tại Liên Xô nếu khéo biết lèo lái

qua cơn bão táp hiện nay. Ông Blair Ruble, giám đốc Viện nghiên

cứu các vấn đề Xô Viết ở Washington, cũng cho rằng nhiều người ở

Liên Xô còn ủng hộ một số những chính sách an ninh xã hội của

cộng sản nên đảng cộng sản vẫn có thể được một số dân chúng dồn

phiếu cho.

 Orlando Figes thì viết là ở Liên Xô hiện nay vẫn còn 18 triệu

viên chức mà hầu hết có chân trong đảng (trước đảo chính). Loại

bỏ những ngưới này là làm một cuộc thanh lọc khổng lồ gây sáo

trộn hệ thống chính quyền và làm mất đi rầt nhiều tài năng giàu

kinh nghiệm trong các lãnh vực chuyên môn.

 Ký giả Jonathan Steel cho rằng muốn thay đổi nước Nga thì

phải xây dựng trong nhân dân Nga tinh thần tôn trọng luật pháp,

mở rộng dân chủ tới mức tối đa, biết lắng nghe đối lập và chịu

chấp nhận bất đồng chính kiến. Làm được việc này cũng phải mất

hàng chục năm. Cải cách kinh tế thực sự cũng phải lâu như vậy.

Các nước Đông Âu đã cố gắng chuyển từ một nền kinh tế nhà nước

chỉ huy sang một nền kinh tế thị trường bằng những biện pháp cực

mạnh và đã thất bại. Sự thất bại đó phải là một cảnh cáo cho Nga

lẫn phương Tây. Không có gì thay thế được sự thay đổi dần dần

từng bước. Kinh tế tư doanh phải bắt đầu từ dươi lên, từ khu vực

nông nghiệp và dịch vụ trước nhất. Đây là lãnh vực cần cải thiện

nhiều nhất và chứa đựng tiềm năng làm vừa lòng giời tiêu thụ

nhanh nhất. Còn phương Tây có cung cấp gì thì cũng chỉ là trợ

giúp bên lề mà thôi.

 

 Sau cuộc chính biến 6O giờ tại Liên Xô hồi tháng 8-91, những

gì xẩy ra tại vùng đất này cho thấy Liên bang Xô Viết theo kiểu

cũ với quyền hành tập trung cả vào Moscow không còn có nữa và các

đảng cộng sản ở Liên Xô dù có hoạt động trở laị cũng không còn

giữ được địa vị độc tôn nữa. Lịch sử đã sang trang.

 

QUÝ   VĂN

 

ĐỔI MỚI HAY LÀ CHẾT

 nhưng ĐỔI MỚI NHƯ THẾ NÀO ?

 

Đã đành ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã có lần nói “Đổi

mới hay là chết” nhưng đổi mới như thế nào, chính trị trước hay

kinh tế trước, hay cả hai cái cùng một lúc, và đổi mới với tốc độ

nào, thật nhanh hay chầm chậm từ từ vẫn còn là đề tài gây nên

nhiều tranh cãi sôi nổi không chỉ ở trong nước mà còn ỏ cả ngoài

nuớc trong các cộng đồng người Việt nữa.

 

Liên Xô đổi mới chính trị trước. Khi lên làm Tổng bí thư đảng

hồi tháng 3-1985 ông Gorbachev đề ra chủ thuyết glasnost và

perestroika. Ông dùng ngay đảng cộng sản ông nắm trong tay với

con số khoảng 2O triệu đảng viên để thực hiện công cuộc cải cách.

Đảng không còn sinh hoạt trong bóng tối bí bí mật mật nữa mà đã

phơi bầy ra trước mắt mọi người. Mọi người được ăn được nói và

được phép chỉ trích đảng và nhà nuớc. Những phần tử thủ cựu trong

đảng, hoặc vì những đặc quyền đặc lợi họ được hưởng từ trước tới

nay hoặc vì đầu óc giáo điều khô cứng ngấm ngầm chống phá công

cuộc cải cách của ông Gorbachev. Trong khi ấy những phần tử cấp

tiến trong đảng như nhóm của ông Yeltsin đòi hỏi phải cải cách

mau và mạnh hơn nữa, ngay cả việc dùng đến những biện pháp quyết

liệt.

 Ông Gorbachev bị giằng xé giữa hai lực lượng. Cuộc đảo

chính nhằm lật đổ ông Gorbachev đã đem lại thắng lợi vô cùng to

lớn cho phe cấp tiến nhưng đồng thời cũng đem lại những khó khăn

mới. Liên bang Xô Viết kiểu cũ bị sụp đổ hoàn toàn. Đảng cộng sản

bị treo giò và không có hy vọng nào trở lại địa vị độc tôn như

trước, nhưng cũng chưa có chính đảng mới nào có đủ sức hậu thuẫn

của nhân dân để lấp lỗ trống đảng cộng sản để lại.

 Trong khi ấy tình hình kinh tế tiếp tục suy sụp. Sản xuất đình

đốn. Phân phối gián đoạn.Mùa đông tháng gía này, hàng triệu người

dân Liên Xô phải sống trong cảnh cơ hàn, thiếu ăn thiếu sưởi, và

bệnh tật nếu các nước phương Tây không viện trợ cấp tốc. Đã có

dấu hiệu dân chúng bất mãn ở nhiều nơi. Để cứu vãn tình thế, ông

Yeltsin, Tổng thống Nga, phải thân đứng ra thi hành các biện pháp

cải cách quyết liệt mà ông đã cảnh cáo là sẽ đem lại nhiều đau

đớn cho dân chúng Nga. Ông còn xin Quốc Hội cho phép ông được cai

trị bằng sắc lệnh của tổng thống và cho hoãn các cuộc bầu cử địa

phương cho tới tháng 12 sang năm. Tại một cuộc họp Quốc Hội cuối

tháng 1O-91, ông đã nói là tổ chức bầu cử lúc này là một trò chơi

xa xỉ chúng ta không được phép làm. Không thể tổ chức tranh cử và

bầu cử cùng một lúc đem thi hành những biện pháp cải cách quyết

liệt.

 Các đề nghị của Tổng thống Yeltsin đã được Quốc Hội chấp

thuận, nhưng điều trớ trêu ở đây là trong khi phe dân chủ có

người tỏ ý e ngại ông Yeltsin sẽ tiến tới độc tài thì phe bảo thủ

lại ủng hộ ông hết mình vì họ tin rằng các cải cách thất nhân tâm

của ông sẽ thất bại và sự nghiệp chính trị của ông vì thế sẽ tiêu

ma.

 

Cuối tháng 1O, tại Ba Lan có cuộc bầu cử Quốc Hội tự do dân

chủ nhất từ hơn 5O năm nay. Kết quả là trong số hơn 2O đảng đưa

người ra tranh cử, không một đảng thắng nào chiếm được trên 13

phần trăm số phiếu của cử tri. Đảng Liên Minh Dân Chủ Phe Tả

(Democratic Left Alliance) – cộng sản cũ – chỉ thua sát nút đảng

Liên Hiệp Dân Chủ (Democratic Union). Số người đi bỏ phiếu chỉ có

4O phần trăm có nghĩa là trong số 5 cử tri có tới 3 vị “hỗng

thèm” đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử thực sự dân chủ nhất ở Ba Lan

từ 5O năm nay.

 Phe Công Đoàn Đoàn Kết ủng hộ Tổng thống Lech Walesa thất

vọng não nề nhưng vẫn thẳng thắn chấp nhận bản án của nhân dân.

Tổng thống Walesa nói : “Xã hội đã trở nên vô cùng chia rẽ và

phân hóa”. Thủ tướng Bielecki nói : “Một cuộc bỏ phiếu chống lại

kinh tế thị trường”. Chủ tịch Quốc hội Stelmachowski nói : “Tình

trạng không thể để tiếp tục như trước được nữa”. Để cứu vãn tình

thế trước sự quay trở lại chính trường của các phần tử cộng sản

cũ, ông Walesa cũng muốn xin lập pháp cho ông được đặc quyền vừa

làm tổng thống vừa làm thủ tướng nghĩa là nắm trọn quyền hành ít

nhất trong vòng hai năm.

    Nhớ lại cách đây mới hơn hai năm, ở Ba Lan cũng có những cuộc

bầu cử dân chủ, tuy chưa trọn vẹn, và Công đoàn Đoàn Kết đã thắng

hết sức vẻ vang. Dường như lúc ấy người dân có một sự lựa chọn

thật là rõ ràng giữa cái quá khứ đầy đau khổ với cái tương lai

đầy hy vọng. Nay cái tương lai ấy đã trở thành cái hiện tại đầy

phũ phàng : Thất nghiệp vượt quá 1O phần trăm, lương vẫn ở mức

của Ba Lan trong khi vật giá ngang bằng của phương Tây. Giới về

hưu bị đập nặng nhất vì nạn lạm phát, còn công nhân – lực lượng

nòng cốt của Công đoàn Đoàn Kết – thì lang thang đói khổ vì mất

sở làm. Con số 6O phần trăm cử tri “hỗng thèm” đi bầu cho thấy

người dân chán nản, mất tin tưởng đến độ nào.

 

Trung quốc cải cách kinh tế trước và đã khá lâu trước khi ông

Gorbachev lên làm tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô năm 1985.

Công cuộc cải cách kinh tế đã giúp nâng cao mức sống của người

dân và trong khi mức sống đang lên thì phong trào đòi tự do dân

chủ bùng nổ sau một thời gian âm ỉ cháy ngầm. Giữa năm 1989,

trùng hợp với chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Gorbachev, các

sinh viên học sinh ở Bắc Kinh đã chiếm quảng trường Thiên An Môn

và tổ chức các cuộc biểu tình đòi tự do dân chủ. Các cuộc biểu

tình bị quân đội dùng súng đạn dẹp tan trong vài tiếng đồng hồ.

Các nhà báo phương Tây gọi đó là vụ Thảm sát Thiên An Môn.

 Các nhà lãnh đạo Bắc Kinh bị lên án gắt gao. Mỹ và các nước

phương Tây trừng phạt Trung quốc về kinh tế. Các nhà lãnh đạo

phương Tây bảo nhau tẩy chay không thèm đi lại với Trung quốc.

Nhưng rồi đâu lại hoàn đấy. Chính phủ của Tổng thống Bush lại vẫn

dành cho Trung quốc qui chế tối huệ quốc về mậu dịch. Lần lượt

các chính khách phương Tây lại qua thăm Bắc Kinh. Cuối tháng 8

vừa qua, ông John Major, thủ tướng Anh cũng sang Bắc Kinh và có

bắt tay cụng ly với Thủ tường Lý Bằng, tên “đồ tể” đã ra lệnh nổ

súng vào đám sinh viên biểu tình hiền hòa ỏ quảng trường Thiên An

Môn “xin” tự do dân chủ. Đầu tháng 11. ông Baker, ngoại trưởng

Mỹ, loan báo sẽ qua thăm Bắc Kinh vào trước cuối tháng. Đây là

giới chức cấp cao nhất của Mỹ tới thăm Trung quốc kể từ vụ gọi là

Thảm sát Thiên An Môn xẩy ra cách đây hơn hai năm.

 Một tài liệu mật chỉ được lưu hành từ cuối tháng 9 trong đám

đảng viên kỳ cựu của đảng cộng sản Trung quốc vừa lọt ra ngoài.

Tài liệu lên án ông Gorbachev và ông Yeltsin là đang tung ra một

chiến dịch “khủng bố trắng” nhắm vào các đảng viên cộng sản Liên

Xô. Đã xẩy ra nhiều vụ bắt giữ và thanh trùng hàng loạt. Một tài

liệu mật khác mô tả cảnh những đảng viên cộng sản cũ bị hành hạ,

ngược đãi ra sao ở khắp Đông Âu, như một giáo sư dạy ở một trường

đảng nay phải đi bán vé xe điện ngầm, nhiều cựu đại sứ đi bán báo

ở ngoài đường. Có lẽ những chuyện này được kể ra là để nhắc khéo

cho thấy số phận dành cho những đảng viên cộng sản Trung quốc nếu

có một cuộc cách mạng mới. Đặc biệt có câu : “Hiểm nguy lớn nhất

không phải là những cuộc tấn công cuồng loạn của các lực lượng

thù địch ở trong và ngoài nước mà chính là việc những người trong

hàng ngũ đảng vứt bỏ vũ khí chủ thuyết và các nguyên lý Mác-xít

cơ bản”.

 

Tại Việt Nam, công cuộc đổi mới được chính thức phát động sau

Đại hội đảng họp hồi cuối năm 1986. Ưu tiên đổi mới là về kinh

tế. Việt Nam mở cửa, tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư ở Việt

Nam tuy chưa nhiều. Người trong nước cũng bỏ tiền bỏ của ra làm

ăn buôn bán. Sinh hoạt kinh tế nhộn nhịp. Sản xuất gia tăng ở một

số mặt, nhất là nông nghiệp. Một số người trở nên giàu có. Nhưng

việc chuyển từ một nền kinh tế chỉ huy, quan liêu bao cấp sang

nền kinh tế thị trường cũng đem lại khó khăn, đau khổ cho một số

người, đặc biệt là giới công nhân viên, giáo viên sống bằng đồng

lương cố định, và những người lớn tuổi về hưu. Số người thất

nghiệp gia tăng kéo theo sự gia tăng các tệ nạn xã hội như mãi

dâm, ma túy, lối sống buông thả, làm ăn chụp giật, gian manh, lừa

đảo, buôn lậu, trốn thuế, tham ô hủ hoá trong đám cán bộ có chức

có quyền. Tội ác nhẩy vọt tới hơn 4O phần trăm trong sáu tháng

đầu năm 1991 theo tin của tờ Vietnam Weekly tháng 9-91.

 Về chính trị Việt Nam vẫn không chấp nhận đa nguyên, đa đảng.

Tuy nhiên báo chí và người dân cũng được “cởi trói” nhiều

hơn trước, được ăn, được nói và được sống thoải mái hơn. Bầu

không khí chính trị cũng sôi động hơn nhờ những bài viết nẩy lửa

của Dương Thu Hương, những ý kiến nghe chối tai đối với một số

lãnh đạo như những ý kiến của các ông Trần Xuân Bách, Nguyễn Khắc

Viện, Hoàng Minh Chính, Phan Đình Diệu, Bùi Tín v.v. và v.v.

 Sau Đại hội 7 họp hồi cuối tháng 6-91, ông Võ Văn Kiệt được

bầu lên làm thủ tướng với sự chấp thuận của Quốc hội. Khi đăng

tin này, nhiều báo ở Anh gọi ông Kiệt là một nhà “technocrat”,

một nhân vật hàng đầu chủ trương cải cách kinh tế theo kiểu tư

bản phương Tây.

 

Việt Nam vẫn đang tiếp tục tiến hành công cuộc đổi mới do Đại

hội 6 đề ra từ cuối năm 1986. Tốc độ nhanh hay chậm là do người ở

trong nước chọn lựa và quyết định. Họ mới là những người trong

cuộc, những người trực tiếp được hưởng thành quả của công cuộc

đổi mới nếu đi đúng đường và làm tốt, và cũng là những người phải

trực tiếp hứng chịu những hậu quả tai hại của công cuộc đổi mới

nếu đi sai đường hoặc làm không tốt. Mong rằng những gì đang diễn

ra ở Liên Xô, ở Ba Lan, ở các nước Đông Âu khác và ở Trung quốc

sẽ đem laị thêm kinh nghiệm cho Việt Nam để tiến hành công cuộc

đổi mới sao cho thích hợp với hiện tình Việt Nam và phù hợp với

cái trật tự mới đang hình thành trên thế giới. Mong lắm thay!

 

QUÍ   VĂN

 

Từ người Cuba lưu vong

 đến “Bọn chúng mình”

 

Người Cuba sống lưu vong ở Mỹ lâu hơn và đông hơn là người

Việt. Nhiều người đã ở Mỹ từ ba chục năm nay trong khi người

Việt chỉ mới có mặt đông đảo trên đất Mỹ từ 1975. Số người Cuba

lưu vong đông tới ngót nghét một triệu còn người Việt chỉ hơn

6OO ngàn.

 Cái mộng “phục quốc” của lớp người Cuba lưu vong đầu tiên

trên đất Mỹ đã phôi pha theo với thời gian và chỉ còn lại là một

cái bóng mờ. Những biến động tại Liên Xô và quyết định rút quân

cùng cắt giảm viện trợ kinh tế cho Cuba của ông Gorbachev đã làm

sống lại giấc mộng đó nhưng cũng làm cho hàng ngũ người Cuba lưu

vong bị phân hóa hơn bao giờ hết.

 Theo ông Alonso Morgan, một chuyên gia về cộng đồng người

Cuba-Mỹ có cơ sở tại Miami thì nhóm lưu vong đông nhất do Jorge

Mas Canosa cầm đầu chủ trương phải thay đổi tòan diện Cuba, diệt

hết chủ nghĩa cộng sản và thay vào đó bằng chủ nghĩa tư bản.

Những nhóm khác như nhóm Lập trường Dân chủ Cuba thì lại chủ

trương tự do kinh doanh nhưng vẫn giữ lại một số cơ cấu do Nhà

nước kiểm soát, chẳng hạn như về an sinh xã hội và y tế. Một nhóm

khác do Ramon Cernuda lãnh đạo thì lại muốn tìm kiếm một sự thoả

hiệp dù cho có phải để lại một số phần tử của chế độ cũ ở nguyên

vị trí. Tóm lại có rất nhiều nhóm chủ trương xây dựng lại Cuba

với những đường lối rất khác nhau.

 Nhưng không một người Mỹ gốc Cuba nào lại nói là mình sẽ trở

về sống tại Cuba. Người già lớn tuổi thì kêu là mình già rồi, nói

chuyện trở về là quá trễ. Lớp trẻ hơn, sinh đẻ tại Mỹ, thì có

muốn trở về cũng không biết về đâu vì không có đâu mà về. Ông

Morgan cho rằng sau này, nếu tình thế ổn định và thấy có thể làm

ăn ra tiền được, chắc sẽ có một số trở về. Nhưng đại đa số chỉ

thấy nói đến chuyện về chơi, về nghỉ hè thôi.

 Các nhóm nguời Cuba lưu vong vẫn ngồi ở khu “Havana Nhò” chờ

cho lão già Fidel Castro cút về vườn sớm. Nhưng mới đây ông này

lại tuyên bố : “Đối với tôi, quyền hành có sướng gì đâu, chỉ là

làm nô lệ cho mọi người. Nhưng tôi lại thích làm một thằng nô lệ.

Nghề của tôi mà.”

 Chuyện về người Cuba lưu vong cho thấy có những điểm giống

với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Trong cộng đồng Việt

Nam cũng có những “trường phái chính trị” khác nhau và đôi khi

chống đối nhau đối với hiện tình đất nước. Có những nhóm chống

cộng cực đoan, chủ trương tự do dân chủ, đa nguyên đa đảng nhưng

lại đòi phải diệt cho bằng được đảng cộng sản và chủ nghĩa cộng

sản ở trong nước. Có những nhóm chủ trương chống cộng ôn hòa, lập

trường không rõ rệt. Còn có những nhóm chủ trương hoà giải hòa

hợp dân tộc, cùng bắt tay nhau để xây dựng lại đất nước. Nhưng

cũng không thấy mấy người nói rằng họ sẽ về sống ở trong nước mà

hầu hết chỉ muốn về “nghỉ hè”.

 Điểm khác nhau là trong khi cộng đồng người Cuba lưu vong chờ

đợi cho tình hình đất nước họ ổn định hẳn và làm ăm được mới có

một số chịu trở về còn cộng đồng Việt thì đã có một số trở về làm

ăn rồi kể từ khi có chính sách đổi mới cuối năm 1986. Ngoài ra số

bà con người mình trở về “nghỉ hè”, nhất là vào dịp Tết, thì mỗi

ngày một thêm đông đến nỗi các chuyến bay vào dịp Tết đều không

còn chỗ, và ngay tại nước Anh này đã thấy có dấu hiệu cạnh tranh

giữa các hãng tổ chức du lịch về Việt Nam.

 

PHI   NHÂN

Authored by: Hoi Nguoi Viet

Hội người Việt Nam tại Vương Quốc Anh là một tổ chức duy nhất, đại diện cho người Việt Nam đang sống, làm việc tại Anh. Bao gồm các sắc tộc người Việt Nam, không phân biệt thành phần, đẳng cấp, tôn giáo, nghề nghiệp. VAUK là một tổ chức từ thiện, không vụ lợi, phi chính trị, độc lập và tự quản. Tăng cường tình tương thân, tương ái, đoàn kết và hiểu biết lẫn nhau giữa người Việt Nam đang sống tại Anh, tương trợ, động viên và giúp đỡ nhau sớm hội nhập với cuộc sống mới và tôn trọng luật pháp của nước sở tại. Tăng cường thông tin liên lạc nhằm giúp nhau giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hướng về quê hương, thông hiểu tình hình thực tế của đất nước, động viên để mọi người góp phần hữu hiệu vào xây dựng đất nước. Thắt chặt tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Anh, góp phần làm cho quan hệ văn hóa, kinh tế của hai nước cùng phát triển.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *