Thơ Nguyễn Quang Nhật Nam với lời bình của Hoàng Đạt

Nhà thơ Nguyễn Quang Nhật Nam

HỘI LÀNG
Hội làng… thăm lại đình xưa
Câu ca ai thả đong đưa nghĩa tình
Hẹn trăng về đậu mái đình
Đợi ai ngơ ngẩn trúc xinh đứng chờ
Miếng trầu cánh phượng nằm mơ
Giật mình tưởng chạm phải bờ môi xinh
Áo the yếm thắm rung rinh
Đôi tà nghiêng cả mái đình rêu phong
Trống chèo vỗ sóng trong lòng
Liếc ngang con mắt tưởng cong mạn thuyền
Trầm hương lan tỏa một miền
Sân đình nao nức… mà duyên lặng thầm,
  10.5.2020
Nguyễn Quang Nhật Nam

HỘI LÀNG
Thơ Nguyễn Quang Nhật Nam
Lời bình Hoàng Đạt
Nền văn hóa làng xã đã trải dài suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Làng là đơn vị hành chính cổ xưa vẫn tồn tại đến tận ngày nay. Làng là nơi cố kết một cộng đồng người, nơi diễn ra các hoạt động sống, hoạt động văn hóa, tâm linh…làng có nhiều cái chung: cổng làng, đình làng, ao làng, giếng làng, hội làng…trong đó hội làng là một điểm nhấn đặc biệt có phần lễ và phần hội đặc trưng của từng vùng miền khác nhau. Thông qua hội làng mà tác giả NQNN, đưa chúng ta về một không gian văn hóa đậm chất trữ tình hoài cổ :
“ Hội làng…thăm lại đình xưa
Câu ca ai thả đong đưa nghĩa tình
Hẹn trăng về đậu mái đình
Đợi ai ngơ ngẩn trúc xinh đứng chờ “
Như một hướng dẫn viên du lịch, tác giả đưa ta thăm lại ngôi đình xưa , lời giới thiệu tuy không mới, vẫn trăng vẫn trúc nhưng lại cho ta một cảm giác rất thơ mộng bởi khả năng khai thác từ ngữ của tác giả.” Câu ca ai thả, đong đưa nghĩa tình” . hai động từ đơn và láy được khéo léo sử dụng khiến cho ta có cảm giác bên tai tràn ngập những âm thanh xao xuyến, lay động khi bước tới sân đình.
“ Hẹn trăng về đậu mái đình”
câu thơ thật đẹp như tranh vẽ vậy. Một ngôi đình trong đêm trăng, mà trăng “ đậu mái đình” tức là trăng lên chênh chếch bám dính vào mái đình, như một viên kim cương đính trên mái đình,làm cho mái đình sáng quắc lồng lộng trên nền trời đêm thơ mộng.có lẽ, cũng chính vì có những cảnh đẹp như vậy đã tạo nên tâm hồn thi ca của người Việt Nam ta chăng ? Trúc, trăng và sân đình luôn là 3 yếu tố hợp thành trong những câu ca dao bất hủ. Đã ngàn năm trúc đứng bên đình như một định mệnh. Cũng ngàn năm tài tử ,- giai nhân vẫn đến vãn cảnh chùa mà tìm nhau. Từ một khóm trúc vô hồn bên đình, tác giả đã thổi hồn vào để nó cũng biết “ ngẩn ngơ” như đang “ đợi chờ ai”..!
“Miếng trầu cánh phượng nằm mơ
Giật mình tưởng chạm phải bờ môi xinh
Áo the yếm thắm rung rinh
Đôi tà nghiêng cả mái đình rêu phong”
Trong các lễ hội, nhất là hội Lim, người ta hát giao duyên có điệu mời trầu. Tục ăn trầu có tự ngàn xưa. Nghi thức cưới hỏi luôn đi liền với trầu cau. “ miếng trầu là đầu câu chuyện “. Trầu được têm rất kiểu cách. Trầu têm cánh phượng là một nét văn hóa độc đáo của nhiều vùng châu thổ sông hồng, nhất là vùng kinh Bắc, Bắc Ninh ngày nay.
“ Miếng trầu cánh phượng nằm mơ
Giật mình tưởng chạm phải bờ môi xinh”
Một sự nhân cách hóa tuyệt vời.nghe câu thơ mà ta liên tưởng tới một tình yêu đôi lứa giây phút ban đầu còn tinh khôi, e lệ, ngỡ ngàng . chỉ là “ nằm mơ” thôi mà đã “ giật mình” như giây phút chạm phải bờ môi xinh” của nàng…để ý về cách dùng từ của tác giả- “ chạm phải” chứ không phải “ chạm vào”, “ chạm lên “ . bởi “ chạm phải “ biểu lộ một tâm lý e nể, kiêng cữ một cách ý tứ. Vừa là thể hiện sự trân trọng, vừa là sự ham muốn trong khuôn phép …
Một câu thơ rất nội tâm sâu sắc và có duyên.
“ Áo the yếm thắm rung rinh
Đôi tà nghiêng cả mái đình rêu phong”
“ Áo the, yếm thắm” là trang phục lễ hội của “ liền anh” “ liền chị” khi hát giao duyên. “ rung rinh” theo nhịp bước, theo làn điệu dân ca, đó là nghĩa thực. Còn nghĩa bóng, “ rung rinh” còn thể hiện sự rung cảm tâm hồn, sự say đắm, hòa quyện. Ta như thấy ánh mắt nụ cười và sự e lệ của các cô thôn nữ khi các chàng trai đang tung hứng các làn điệu giao duyên tại sân đình trong đêm trăng sáng.
“ Đẹp nghiêng nước , nghiêng thành” là thành ngữ chỉ anh hùng không qua được ải mỹ nhân. “ Đôi tà nghiêng cả mái đình rêu phong”. Thông qua “ đôi tà “ áo để nói về vóc dáng tuyêt đẹp của các cô gái làm “ nghiêng cả mái đình rêu phong “ thì quả là tài tình. Rêu phong như mái đình còn bị “nghiêng” nữa là…
“ Trống chèo vỗ sóng trong lòng
Liếc ngang con mắt tưởng cong mạn thuyền
Trầm hương lan tỏa một miền
Sân đình náo nức…mà duyên lặng thầm”
Chèo là môn nghệ thuật độc đáo của vùng châu thổ sông hồng.
Những người mê hát chèo không thể quên được câu ca dao đã ngấm vào máu của bao thế hệ
“ ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe giục trống chèo, bế bụng đi xem”
Tiếng trống chèo muộn giục giã lôi cuốn bởi thanh âm và nhịp phách của nó.
“ trống chèo vỗ sóng trong lòng “ thì quả là tinh tế và uyên thâm. Ta như nghe thấy từng đợt sóng xô nhau thúc giục , rộn rã làm cho ra đứng ngồi không yên…
Tác giả phải là người yêu chèo, am hiểu về chèo lắm mới viết được câu thơ hay về tiếng trống chèo đến vậy. Bất chợt nhớ đến câu thơ của một nhà thơ viết về ánh mắt : “ Vay tình một chút ca dao / Để ai liếc mắt chứa vào tim ai”. Ôi ánh mắt sắc như dao cau làm trái tim rỉ máu..Ở đây “ Liếc ngang con mắt tưởng cong mạn thuyền” liếc mắt mà cong được mạn thuyền ai có thể trụ nổi chứ. Câu thơ này còn hàm một ý tả con thuyền rồng mũi cong … Một không gian thơ mộng “ lan tỏa” trầm hương man mác. Một “ sân đình náo nức…mà duyên lặng thầm” .
Câu thơ kết như một câu đối thể hiện sự trái ngược của không gian và tâm hồn“ náo nức….lặng thầm” . nhớ lại câu thơ Kiều của Nguyễn Du “ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” mới thấy hết được tâm trạng tác giả gửi gắm vào câu kết. Tại sao sân đình náo nức thế mà duyên em vẫn lặng thầm vậy. Phải chăng em chưa gặp được ý trung nhân. Người tri âm tri kỷ nên dù lạc trong chốn ồn ào náo nhiệt mà vẫn thấy cô đơn…?!
Bài thơ có ba khổ thơ, tân cổ giao duyên, một sự thể nghiệm thành công trong việc sử dụng ngôn từ, không hoa mỹ, mà đầy ẩn dụ, trữ tình. Lối viết khá độc đáo, giản dị mà lôi cuốn cổ mà không cũ, xin chúc mừng tác giả.

Việt Trì ngày 13.5.2020
Hoàng Đạt