Thầy Bửu – Một trí thức chân chính

Thầy Bửu - Một trí thức chân chính

 

Giáo sư Tạ Quang Bửu đã từng học tại các Đại học Sorbonne và Oxford trong các năm 1930.

DaiDoanKet-Thứ sáu, 03/05/2019

Giáo sư Tạ Quang Bửu sinh ngày 23/7/1910, trong một gia đình nhà giáo tại thôn Hoành Sơn, xã Nam Hoành, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Năm 1922, ông thi vào trường Quốc học Huế và đỗ thứ 11, sau đó ông ra Hà Nội học trường Bưởi, đỗ đầu tú tài Việt và tú tài Tây ban Toán, ông nhận được học bổng của Hội An Nam như Tây Du học của Nguyễn Hữu Bài và sang Pháp học.

Tại Pháp, năm 1929, ông đăng ký học lớp toán đặc biệt của trường Louis le Grand về toán học và vật lý lý thuyết, đăng ký học cử nhân toán ở viện Henri Poincaré. Ông đã đến nghe ở giảng đường Hermite (dành cho cử nhân), tham dự các buổi xê-mi-na ở giảng đường Darboux (dành cho những người học trên đại học). Ông thi đỗ vào trường Centrale Paris (1930), theo học chương trình cử nhân khoa học ở Đại học Sorbonne, học toán ở các trường Đại học Paris, Bordeaux (1930-1934) và được trường Bordeaux trao đổi sang Đại học Oxford (Anh), tại đây ông học thêm vật lý lượng tử. Sự nghiệp cao cả

Trở về nước năm 1934, ông không ra làm quan mà đi dạy toán, tiếng Anh và các môn khoa học tự nhiên khác tại trường tư. Ông và Tôn Thất Tùng tham gia nhóm hướng đạo Việt Nam. Đi làm công cho hãng điện – nước SIPEA (1942-1945), được cử phụ trách nghiên cứu, thiết kế nhiều bộ phận cho các nhà máy điện, tái sinh dầu nhờn cho Quy Nhơn, ông đã khước từ Huân chương Bắc đẩu do Pháp trao vì thiết kế đường dây điện cao thế cho nhà máy vôi Long Thọ. Tháng 8/1945, ông tham gia Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội. Từ tháng 9/1945 đến tháng 1/1946, ông đã đảm nhận chức vụ Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng tham gia Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự hội nghị trù bị Đà Lạt, hội nghị Fontainebleau (Pháp). Tháng 7/1947, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương đến tháng 8 làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam một năm rồi trở lại cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Năm 1954, ông tham gia đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Geneva về Việt Nam, trên cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và là người đại diện cho Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam kí văn bản Hiệp nghị đình chỉ chiến sự tại Việt Nam và Lào (Hiệp định Geneve về Việt Nam). Miền Bắc hòa bình, ông được cử làm Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội (1956-1961), Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước (1958-1965) kiêm Tổng thư ký, trực tiếp làm trưởng ban Sinh vật – Địa học, tham gia sáng lập Hội Vật lý Việt Nam (1966). Ông là Bộ trưởng đầu tiên của bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1965-1976).

Khi Mỹ thả thuỷ lôi trên sông biển và phong toả cảng Hải Phòng, ông đã trực tiếp chỉ đạo một tổ nghiên cứu thiết kế, chế tạo khí tài phá thủy lôi (mật danh GK1), phá bom từ trường (mật danh GK2) do Tiến sĩ Vũ Đình Cự làm tổ trưởng.

Đêm 14/8/1986, ông đột ngột ngưng làm việc do tai biến mạch máu não. Ông mất vào ngày 21/8/1986, hưởng thọ 76 tuổi. Ông đã được Đảng, Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều huân chương: Độc lập hạng Nhất, Kháng chiến hạng Nhất, Chiến thắng hạng Nhất, Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Chiến công hạng Nhất, Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba. Năm 1996, ông được nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về khoa học công nghệ với tập hợp các công trình “Giới thiệu khoa học – kĩ thuật hiện đại (sau 1945), chỉ đạo các nhiệm vụ quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những quan điểm xây dựng ngành Đại học và Trung học chuyên nghiệp nước nhà”.

Người uyên bác

Sự uyên bác của Giáo sư Tạ Quang Bửu là điều rất kỳ lạ. Tôi chỉ nói một khía cạnh nhỏ, đó là Sinh học – một lĩnh vực khác hẳn với Toán học, chuyên ngành mà ông đã lấy bằng Tú tài Toán từ năm 1929, sau đó được đào tạo chính quy ở các Đại học Paris, Bordeaux (Pháp) và Oxford (Anh)… Trong kháng chiến chống Pháp, khi cha tôi làm Giám đốc Giáo dục Liên khu X, có lần cụ đã mang về nhà cuốn sách Sống và vui sống xuất bản trên giấy dó do Giáo sư Tạ Quang Bửu viết. Vào năm 1948, nghĩa là 5 năm trước khi J.D. Watson và F.H.C. Crick khám phá ra cấu trúc ADN, mở màn cho thời đại Sinh học phân tử, phải nói là kỳ lạ vì ông viết ra những điều rất uyên bác: “Ngoài chromosome (nay gọi là nhiễm sắc thể) thì tế bào chỉ chứa những hóa chất không có gì đặc sắc… Nhưng số đặc tính trong một con người lớn hơn số chromosome nhiều, nên các đặc tính ấy chỉ có thể chiếm những phần tử rất bé của chromosome: mỗi đặc tính sẽ chiếm một căn cứ gọi là gen… Một chromosome là một chuỗi gồm 2.000 gen và như thế chiều dài của mỗi gen không quá 3/10.000mm hay ba trăm Angtrom. Theo đó một gen dài bằng một trăm lần khoảng cách giữa hai nguyên tử trong một khí”… Bất kỳ nhà sinh học nào đọc lại cuốn sách mỏng này chỉ có thể từ ngạc nhiên đến khâm phục. Ngày nay khi các nhà sinh học trên thế giới bắt đầu chuyển sang nghiên cứu Sinh học lượng tử (Quantum Biology) thì ngay trong cuốn sách kia đã khẳng định được rằng: Gen, phân tử khổng lồ, theo thuyết Delbruck, cũng là một hệ thống phải cắt nghĩa bằng những định luật của Lượng tử học. Tiếc rằng tác phẩm này Giáo sư Tạ Quang Bửu viết bằng tiếng Việt, chứ nếu không chắc hẳn phải được coi là một trong những trước tác kinh điển của giới Sinh học quốc tế vì trong đó đã có những tiên đoán rất khoa học. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi biết ông là người cùng Kỹ sư Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã lên Thái Nguyên thử đạn bazôca. Ông không chỉ uyên bác về kiến thức mà rất tài hoa trong việc viết tài liệu phổ biến khoa học. Cái khó mà tôi cố học ở ông là: viết thế nào để ai đọc cũng thấy những cái mới, cũng hiểu được, hay ít nhiều hiểu được nội dung chủ yếu. Ông thông thạo tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga và cả chữ Hán nữa, miệt mài đọc sách và chọn toàn những quyển cốt lõi nhất, khi đã ở cương vị lãnh đạo cao vẫn đều đặn đến Thư viện Khoa học để tự chọn sách mượn về đọc. Là người lãnh đạo ngành Đại học và Trung học chuyên nghiệp trong 11 năm trời, đặt nền móng cho sự nghiệp đào tạo không chỉ cho hai ngành này mà cả cho ngành Giáo dục Phổ thông nữa. Xin nhắc lại một số ý kiến mà ông đã từng phát biểu: “Qua mười năm ở bậc phổ thông, các em đã đi từ những trò chơi mật mã đơn giản mà tiến dần đến làm chủ một ngôn ngữ toán học phong phú và chặt chẽ, chính xác và uyển chuyển, chứa gần như toàn bộ số học và phần cơ sở của giải tích toán học… Học sinh vào cấp III với lớp tuổi 14-15 là tuổi trẻ em có khả năng tiếp thu bất ngờ về mặt toán học. Đồng thời cũng là tuổi mà năng khiếu toán học bộc lộ ra rõ rệt… Từ đây sẽ phân ra dần dần những em nào có khiếu, những em nào không…

Thần đồng toán học là một quá trình xây dựng chứ không phải là một hiện tượng bẩm sinh”… Trong gần một thập niên phụ trách việc xây dựng và quản lý nền khoa học và công nghệ nước ta, ông cũng đã có biết bao chính kiến cơ bản và thỏa đáng. Chúng ta không thể quên những lời chỉ bảo của ông, chẳng hạn như: “Ta đã bỏ qua 300 năm của cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất, tức là mất khối lượng kiến thức một triệu lần khối lượng kiến thức ở đầu thế kỷ XVIII. Thấy như vậy để càng thấy không nên để tuột mất cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai. Nếu thế hệ chúng ta để chậm thì thế hệ con em chúng ta về sau phải gánh vác nặng quá… Chúng ta phải tiến đến thanh toán kỹ thuật không có cơ sở khoa học… Cuộc sống của chúng ta là suốt đời vừa làm vừa học, học để mà làm với nội dung khoa học, phương pháp khoa học, đạo đức khoa học, và tác phong khoa học”…

Nhân cách quý giá  

Giáo sư Tạ Quang Bửu có một nhân cách hết sức quý giá. Chưa bao giờ ông lo nghĩ cho riêng bản thân mình. Nghe nói ông dùng chiếc tivi đen trắng cho mãi đến khi người con rể tặng ông chiếc tivi màu. Ông rất gần gũi với mọi người và biết chọn trong mỗi ngành những người giỏi để trực tiếp giao nhiệm vụ. Ông giao cho những việc rất cụ thể và tận tình hướng dẫn để có thể làm bằng được. Đi công tác địa phương ông kéo những cán bộ này đi theo và chỉ định những nhiệm vụ khoa học cần giải quyết. Với riêng tôi, ông còn xuất hiện trong cả những kỷ niệm không thể nào quên được, chẳng hạn như khi tôi được ông giao nhiệm vụ vào chiến trường Đường 9 – Nam Lào để giải quyết chuyện nhiễm Trực khuẩn mủ xanh cho thương binh…

Càng giỏi càng khiêm tốn và càng biết tin dùng lớp trẻ. Đó là bài học không phải ai cũng có thể học được.  Kỷ niệm 109 năm ngày sinh của ông chúng ta nên nhớ đến một câu ông đã viết trong tác phẩm Sống:“Điều cốt yếu không phải là sống là gì. Điều cốt yếu là làm gì trong lúc sống”.

 GS. Nguyễn Lân Dũng

Check Also

Sông Mê Kông Tây Tạng – phần 3 – Du lịch thế giới