Tập trung sức mạnh quốc gia ‘cứu’ doanh nghiệp


Notice: Undefined index: tie_hide_meta in /var/www/html/wp-content/themes/sahifa/framework/parts/meta-post.php on line 3

Tập trung sức mạnh quốc gia 'cứu' doanh nghiệp

 

Tập trung sức mạnh quốc gia ‘cứu’ doanh nghiệp

 

 

(VEF.VN) – Việt Nam cần tập trung sức mạnh kinh tế quốc gia để "cứu" doanh nghiệp, trong đó, đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ giải cứu doanh nghiệp khỏi tình trạng đình đốn sản xuất, kinh doanh – TS. Trần Đình Thiên khuyến nghị.

DN phá sản còn tăng mạnh

Từ đầu năm đến nay, nhiều chuyên gia cảnh báo về một bức tranh kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp đang nhuốm màu ảm đạm. Số DN giải thể, phá sản tăng nhanh, nguy cơ đình đốn sản xuất dần hiện hữu. TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng, cần bổ sung vào bức tranh đó một vài mảng màu kém tươi sáng khác. Đó là thực trạng khu vực doanh nghiệp đang phải chịu gánh nặng chi phí lãi vay và chi phí tài chính ngày một lớn do lãi suất cho vay quá cao. Mức lãi suất cho vay bình quân của Việt Nam đang cao hơn các đối thủ cạnh tranh – một số nước trong khu vực – từ 2 đến 4 lần.

"Đây là một gánh nặng quá lớn, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh của các sản phẩm và doanh nghiệp Việt Nam, vốn đang rất yếu" – báo cáo ông trình bày tại Diễn đàn kinh tế Mùa xuân, do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội phối hợp với Viện Khoa học Xã hội và VCCI tổ chức ngày 8-9/4, nêu rõ.

Ngoài ra, theo TS. Trần Đình Thiên, chi phí tài chính cao không những làm suy giảm lợi nhuận mà còn làm giảm khả năng hồi phục của khu vực doanh nghiệp. Nên lưu ý một đặc điểm rất nổi bật của kinh tế Việt Nam là tăng trưởng dựa mạnh vào vốn, nhiều doanh nghiệp hoạt động theo phương châm "tay không bắt giặc", kinh doanh dựa chủ yếu vào vốn vay ngân hàng. Phương thức hoạt động theo kiểu "đánh mượn sức" này trở nên rất rủi ro khi nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn như hiện nay.

Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng từ đầu năm đến nay luôn trong tình trạng âm. TS. Trần Đình Thiên nhận xét, đây thực sự là thách thức lớn đối với nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Rõ ràng, khác với những năm trước, tình trạng đình đốn sản xuất đã khiến khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, của nhiều doanh nghiệp suy giảm mạnh. Sau một thời gian dài nền kinh tế khó khăn, tình hình tài chính của nhiều doanh nghiệp xấu đi nghiêm trọng, làm cho doanh nghiệp không đáp ứng đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng. Trong khi đó, các ngân hàng lại phải thận trọng hơn trong hoạt động cho vay.

 

Chính tình trạng nguy hiểm này, xét trong triển vọng ngắn hạn, TS. Trần Đình Thiên cho rằng chứa đựng xu hướng mang tính nguy cơ cao là số lượng doanh nghiệp bị phá sản và đóng cửa đang tăng lên. Điều đáng lưu ý ở đây là gia tốc tăng lên của số doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động. Xu hướng này phản ánh sức khỏe của doanh nghiệp vốn đã yếu thì hiện nay, đang tiếp tục giảm sút; khả năng cầm cự với lãi suất cao kém đi rõ rệt. Theo xu hướng đó, với đà giảm lãi suất rất chậm hiện nay, có thể dự đoán xu hướng tăng mạnh số lượng doanh nghiệp tuyên bố phá sản, đóng cửa, tạm ngưng hoạt động trong các thời gian tới.

Kinh tế đình lạm: Tiến thoái lưỡng nan

Tuy nhiên, theo TS. Trần Đình Thiên, khi đề cập đến sự giảm sút sức khỏe doanh nghiệp, điều quan trọng nhất chưa hẳn thể hiện ở số lượng doanh nghiệp phá sản hay đóng cửa. Đáng lo ngại hơn là tình trạng đa số doanh nghiệp đang phải cắt giảm công suất hoạt động với mức độ cắt giảm ngày càng tăng. Đây mới đích thực là phần chìm của tảng băng khó khăn mà các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải. Rất tiếc là không có số liệu nào xác thực cho phép nhận diện chính xác trạng thái thực của tảng băng này. Song logic kinh tế cho phép xác nhận tình trạng "thật sự gay go" mà khu vực doanh nghiệp Việt Nam đang lâm vào.

Hậu quả của tình trạng gia tăng số lượng doanh nghiệp phá sản, đóng cửa hay giảm công suất hoạt động là: i) mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2012 vừa được Quốc hội thông qua (6-6,5%) trở nên rất khó đạt; ii) số lao động thất nghiệp, mất việc hay thiếu việc làm tăng mạnh. Yếu tố này tiềm tàng làm giảm sút lòng tin xã hội vào triển vọng của nền kinh tế và gây bất ổn kinh tế – xã hội.

Kết cục của vòng xoáy tiến thoái lưỡng nan "đình – lạm" (lạm phát cao song hành với tăng trưởng đình đốn) – nguy cơ đáng lo ngại nhất đối với mọi chu trình tăng trưởng kinh tế ở mọi quốc gia, điều đã được cảnh báo cho Việt Nam ít nhất từ năm ngoái – hiện đang cản trở và kìm hãm mạnh mẽ quá trình phục hồi ổn định và tăng trưởng kinh tế của nước ta.

Để "phá vòng luẩn quẩn" đình – lạm nhằm tái lập ổn định vĩ mô và phục hồi tăng trưởng của Việt Nam không dừng lại chủ yếu ở nhiệm vụ "kiềm chế lạm phát" mà phải bổ sung một cấu phần quan trọng khác với mức độ ưu tiên ngày càng cao. Đó là nhiệm vụ chống đình đốn kinh tế, tập trung sức để "cứu" khu vực doanh nghiệp thoát khỏi nguy cơ bị phá sản, đóng cửa, ngưng hoạt động và thu hẹp kinh doanh.

Song, TS. Lê Đình Ấn, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội Quốc gia, nhận xét, đứng trước nguy cơ đình lạm của nền kinh tế với những bất ổn tiềm ẩn, thì dư địa chính sách (cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa) của Việt Nam rất hạn chế.

Theo ông Ấn, để giải quyết mối nguy này, kinh tế Việt Nam đang đứng trước hai mâu thuẫn lớn:

1. Để kiểm soát lạm phát, tăng trưởng tín dụng và cung tiền cần phải giữ ở mức thấp, nghĩa là tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ. Điều này sẽ làm cho doanh nghiệp càng khó khăn hơn trong việc huy động vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất và kinh doanh, nền kinh tế bị đình trệ, thị trường tài sản (bất động sản, chứng khoán) sụt giảm, nợ xấu tăng cao do đó làm gia tăng rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

2. Hiện nay, trần lãi suất huy động tuy đã giảm xuống 13% song lãi suất cho vay vẫn còn cao và chưa thể giảm ngay xuống mức thấp 10%, trong khi lạm phát đã có xu hướng giảm nhanh. Muốn giải quyết nghịch lý này, hạ mặt bằng lãi suất cao để thúc đẩy sản xuất và cầu tiêu dùng thì lại phải giải quyết vấn đề thanh khoản và có thể phải nới rộng cung tiền và tín dụng. Điều này sẽ gây sức ép lên lạm phát vốn luôn sẵn sàng bùng phát trở lại.

 

Như vậy, theo TS. Lê Đình Ân, có thể thấy khó có khả năng lãi suất giảm sâu trong điều kiện hiện nay khi chưa xử lý được vấn đề thanh khoản hệ thống ngân hàng cũng như nợ xấu nói riêng và nền tảng vĩ mô nói chung. Trong khi đó, lãi suất quá cao lại ảnh hưởng rất lớn đến đầu tư của khu vực tư nhân cũng như ảnh hưởng tới mục tiêu cải thiện cấu trúc đầu tư của Chính phủ nhằm giảm đầu tư từ khu vực nhà nước và tăng đầu tư tư nhân.

Cứu DN: Trông vào đâu?

Trong bối cảnh tăng trưởng GDP dự báo giảm và dư địa chính sách bị thu hẹp đáng kể, các chuyên gia cho rằng, kinh tế Việt Nam năm 2012 có tính chất đặc biệt khó khăn. Muốn vượt qua nó thành công, chắc chắn phải dùng đến các giải pháp đặc biệt, phải có tư duy đột phá mạnh.

TS Trần Đình Thiên khuyến nghị, về cấp độ ưu tiên, thực tiễn nhiều năm cho thấy để đưa nền kinh tế thoát ra khỏi tình trạng khó khăn hiện nay (thực tế vẫn đang trong xu hướng khó khăn hơn), không thể không ưu tiên cho nhiệm vụ tái cơ cấu Nhưng để quá trình tái cơ cấu có thể diễn ra, cần ổn định nền kinh tế để tái lập lòng tin thị trường, lòng tin xã hội. Đây phải là hai mục tiêu – nhiệm vụ ưu tiên cao nhất.

Tương ứng, mục tiêu tăng trưởng đương nhiên không phải là mục tiêu ưu tiên – nhưng không phải là "không ưu tiên" ở cấp độ "thông thường" như mấy năm nay mà phải là "không ưu tiên" với lập trường kiên định.

Để làm được điều này, trong năm 2012, cần gạt bỏ triệt để căn bệnh "nghiện" thành tích tốc độ tăng trưởng. Chính phủ và cả hệ thống chính trị cần coi trọng hơn hệ thống đánh giá năng lực và thưởng phạt căn cứ vào thành tích chống lạm phát và khôi phục lòng tin.

Trước hết, theo TS. Trần Đình Thiên, phải bắt tay ngay vào hành động tái cơ cấu thực sự ba lĩnh vực ưu tiên (đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại, khu vực doanh nghiệp nhà nước). Ngoài ra, còn phải tiến hành cải cách hệ thống lương trong khu vực nhà nước ở mức sớm nhất có thể; khẩn trương cải cách hệ thống ngân sách; đẩy mạnh việc thay đổi Luật Đất đai…

Hơn nữa, cần tập trung sức mạnh kinh tế quốc gia để "cứu" doanh nghiệp, trong đó, đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ giải cứu doanh nghiệp khỏi tình trạng đình đốn sản xuất – kinh doanh.

Phần trách nhiệm chính trong công cuộc này phải trao cho chính sách tài khóa với các nội dung cụ thể: giảm thuế doanh nghiệp từ mức 25% xuống 20%, miễn hoặc giảm đáng kể các loại thuế khác (ví dụ các loại thuế nhập khẩu) thay vì "hoãn nộp thuế"; tránh không áp dụng tùy tiện các loại phí, gây ra tình trạng "loạn phí", ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin xã hội, tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp. Đồng thời, phải có phương thức và lộ trình tích cực để hạ nhanh lãi suất chứ không thể theo lộ trình tuần tự chậm chạp (mỗi quý giảm 1% lãi suất), vừa không cứu được doanh nghiệp, vừa gây ra những kỳ vọng không phù hợp về lãi suất, dẫn đến chỗ lựa chọn hành động gây méo mó, làm chệch mục tiêu chính sách là cứu doanh nghiệp trên nền tảng kiềm chế lạm phát.

 

 

Doanh nghiệp nhà nước: “Lời ăn, lỗ dân chịu”
Chủ Nhật, 08/04/2012 07:59 (GMT+7) DoanhNhan SaiGon Online

Nguyên tắc "lời ăn, lỗ chịu" và "được ăn cả, ngã về không", không còn có hiệu lực với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nói chung và các đơn vị thành viên nói riêng. Thay vào đó, tình trạng “lời ăn, lỗ dân chịu” đang ngày càng rõ nét hơn…

 

 

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được hưởng rất nhiều lợi thế

Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung đã nhấn mạnh nội dung nói trên tại bản tham luận ở diễn đàn "Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế" do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức tại Đà Nẵng trong hai ngày 8 và 9/4.

 

Với tiêu đề "Áp đặt kỷ luật của thị trường cạnh tranh thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước", ông Cung đã đi sâu phân tích một số ưu ái, đặc quyền và lợi thế của doanh nghiệp nhà nước, nhất là tập đoàn, tổng công ty nhà nước so với các doanh nghiệp khác, trước khi đưa ra các kiến nghị cụ thể.

Không thể phá sản

Lợi thế đầu tiên được vị chuyên gia này đề cập, đó là doanh nghiệp nhà nước không phải chịu sự chi phối của nguyên tắc “lời ăn, lỗ chịu”, và do đó, những người đại diện chủ sở hữu và liên quan khác không chịu tác động bởi các rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp nhà nước, nhất là tập đoàn, tổng công ty không còn là đối tượng của phá sản, bởi vì họ đang chiếm độc quyền hoặc thống lĩnh trong các ngành quan trọng của nền kinh tế; sự tồn tại và phát triển của tập đoàn, tổng công ty, tập đoàn có liên quan luôn được coi là đồng nghĩa với sự tồn tại và phát triển của các ngành đó trong nền kinh tế. Do đó, sự phá sản của tập đoàn, hay tổng công ty có liên quan bị coi là "phá sản” của ngành kinh tế đó của đất nước, ông Cung nói.

Và Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) chính là ví dụ điển hình, theo Viện phó Cung. Mặc dù Vinashin kinh doanh đa ngành, nhưng phá sản của Vinashin vẫn được coi là dẫn đến “phá sản” của ngành đóng tàu. Điều này cũng đã dẫn đến thực trạng là sự bảo hộ của nhà nước đối với một ngành nào đó trên thực tế đã chuyển thành bảo hộ đối với các doanh nghiệp Nhà nước, tập đoàn, tổng công ty có liên quan, tham luận nêu rõ.

Lý do tiếp theo được ông Cung đề cập là các tập đoàn, tổng công ty luôn có quan hệ chặt chẽ về chính trị với các công chức, cán bộ lãnh đạo, kể cả lãnh đạo cao cấp. Ngược lại, trong vai trò là người đại diện chủ sở hữu và người hoạch định chính sách, các cơ quan và công chức nhà nước có liên quan có can dự trực tiếp và nhiều mặt trong việc ra các quyết định đầu tư, kinh doanh và cả nhân sự ở các tập đoàn, tổng công ty. Vì vậy, sự thất bại hay phá sản của tập đoàn, tổng công ty (nếu có) đều sẽ ảnh hưởng không tốt đến các cơ quan, công chức có liên quan.

Do đó, cảm nhận chung là các khiếm khuyết hay thất bại (nếu có) thường được giảm nhẹ về quy mô và mức độ; và chắc chắn, các cơ quan và công chức có liên quan cũng sẽ không ra các quyết định buộc tập đoàn, tổng công ty phá sản, nếu chúng lâm vào tình trạng phá sản.

Cụ thể hơn, ông Cung tiếp tục phân tích, mỗi khi các tập đoàn, tổng công ty khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, thì bộ trưởng có liên quan (có trường hợp cả phó thủ tướng) trực tiếp chỉ đạo, yêu cầu các doanh nghiệp khác phải mua sản phẩm có liên quan từ các doanh nghiệp đang có các sản phẩm khó tiêu thụ.

Hay khi tập đoàn, tổng công ty không còn cách nào khác để tìm vốn kinh doanh, thì vẫn được nhà nước chỉ định cho vay với lãi suất rất thấp, thậm chí là 0%; khi không thanh toán được các khoản nợ đến hạn, thì Bộ Tài chính cũng đã thu xếp việc thanh toán các khoản nợ đó. Như vậy, về chính trị và định hướng chính sách, các công ty mẹ tập đoàn, tổng công ty không còn và không thể là đối tượng phá sản.

Kiểm soát lỏng lẻo

Bên cạnh nội dung nói trên, tại bản tham luận, ông Cung cũng làm rõ thêm một số lợi thế khác của doanh nghiệp nhà nước. Như các tập đoàn, tổng công ty đang nắm giữ và chi phối quyền và cơ hội kinh doanh, nắm và trực tiếp quản lý và sử dụng hệ thống, mạng chuyển tải, phân phối (điện, xăng dầu, viễn thông…), nắm và chi phối quyền, cơ hội kinh doanh các sản phầm nhà nước quản lý như xuất khẩu gạo, khai thác các loại khoáng sản quan trọng…

Xuất phát từ việc có quan hệ thân thiết với các công chức, hoặc dễ dàng tạo lập các quan hệ như thế, khi cần thiết, nên theo ông Cung thì doanh nghiệp nhà nước tiếp cận dễ hơn, thuận lợi hơn với các quyền và cơ hội kinh doanh theo cơ chế “xin-cho” như tiếp cận quyền sử dụng đất, thăm dò, khai thác tài nguyên, các loại giấy phép khai thác (thậm chí không cần giấy phép vẫn kinh doanh).

Hay, tiếp cận một cách đầy đủ đến các nguồn thông tin của các cơ quan nhà nước. Cấu kết, liên kết tạo ra cơ hội kinh doanh theo ý muốn chủ quan của mình (thông qua làm quy hoạch, làm dự án, bổ sung, sửa đổi quy hoạch).

Tiếp theo, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có lợi thế hơn trong tiếp cận tín dụng. Và đáng lưu ý là có vị trí độc quyền hoặc thống lĩnh thị trường mà không bị kiểm soát hoặc bị kiểm soát rất lỏng lẻo và kém hiệu lực. Bởi vì, các cơ quan giám sát, quản lý thị trường còn rất yếu về năng lực, vẫn thuộc bộ, mà bộ đó lại có xu hướng bảo vệ cho các tập đoàn, tổng công ty có liên quan.

Ở phần nguyên nhân tồn tại các đặc quyền, ưu ái và lợi thế như đã phân tích ở trên, một lần nữa ông Cung nhấn mạnh yếu tố liên quan đến con người. Khi mỗi người, mỗi cơ quan nhà nước trong thực thi nhiệm vụ của mình đều dành thuận lợi, ưu tiên hơn cho các doanh nghiệp nhà nước bởi hàng loạt các lý do như: có quan hệ cá nhân gắn kết, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước, thông lệ bất thành văn, hay vì lợi ích của cá nhân và của những người khác có liên quan….

Điều này cũng lý giải thực tế ở không ít các diễn đàn trước do Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức, nhiều nhà khoa học và chuyên gia kinh tế đã kiến nghị cần xóa bỏ mọi ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước.

Còn tại diễn đàn Quốc hội không chỉ ở khóa 13, việc doanh nghiệp Nhà nước "lời ăn, lỗ dân chịu" cũng đã từng được đề cập, mổ xẻ và thậm chí là đòi "truy" trách nhiệm cá nhân, mà điển hình cũng vẫn là vụ việc liên quan đến sai phạm của Vinashin.

Nhiều câu hỏi để ngỏ về những lỗ hổng trong quản trị, quản lý và kiểm soát doanh nghiệp nhà nước, nay có thể sẽ có thêm những câu trả lời, khi tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn và tổng công ty là một trong ba lĩnh vực trọng tâm của tái cơ cấu nền kinh tế.

Cho dù, như nhận xét của Viện phó Nguyễn Đình Cung, việc áp đặt kỷ luật của thị trường cạnh tranh bằng cách loại bỏ các đặc quyền, lợi thế của tập đoàn, tổng công ty là không dễ dàng, không thể chỉ bằng các giải pháp kỹ thuật và hoàn thành trong một thời gian ngắn.

Con đường ngắn nhất để có thể thực hiện được công việc khó khăn nay, theo ông Cung là cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, trong đó nhà nước chỉ nắm giữ cổ phần thiểu số. Và vì vậy năm 2012 phải có bước khởi đầu có tính đột phá khởi động lại quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã bị chậm lại một cách đáng kể trong mấy năm gần đây.

Một trong số các kiến nghị rất đáng chú ý được nêu ra tại bản tham luận là các doanh nghiệp bị thua lỗ ngoài dự kiến kế hoạch, hoặc không đạt được các mục tiêu quan trọng như kế hoạch, thì giám đốc, tổng giám đốc đương nhiên bị miễn nhiệm, những người khác cũng bị giải trình, truy xét trách nhiệm, khắc phục tình trạng quá lỏng lẻo về kỷ luật, kỷ cương như hiện nay.


 

NGUYÊN THẢO / VNECONOMY

 

Doanh nghiệp nhà nước: “Hư không sợ bị đòn!”

NGUYÊN THẢO
 

09/04/2012 12:18 (GMT+7) VnEconomy Online

 

Cùng với đúc kết của TS. Nguyễn Đình Cung về doanh nghiệp nhà nước “lời ăn, lỗ dân chịu”, khá nhiều nhận xét mang tính đúc rút tiếp tục được dành cho doanh nghiệp nhà nước, tại một diễn đàn về kinh tế vĩ mô đang diễn ra tại Đà Nẵng.

Báo cáo mở đầu tại phiên thứ hai về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, Viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung khi nói về đặc quyền và lợi thế của các doanh nghiệp này đã phát triển thêm nhận xét của chính mình. Là, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước “lời ăn, lỗ cũng ăn và dân chịu”.

Được mời phản biện tham luận của TS. Cung, TS. Vũ Đình Ánh nhắc lại 5 đặc quyền đặc lợi hay “lợi thế tuyệt đối” điển hình của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam đã được ông Cung khái quát. Đó là không sợ phá sản cho dù thua lỗ kéo dài, hay là “khó có người giúp”; biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, hay là “quyền biến thành tiền”; tận dụng cơ chế xin – cho, hay là “xin có người cho”; ưu đãi tiếp cận vốn tín dụng, hay là “vay không lo trả”; ít bị kiểm tra giám sát, hay là “hư không sợ bị đòn”!

Một số đặc quyền đặc lợi của doanh nghiêp nhà nước, nhất là của tập đoàn, tổng công ty  nhà nước, theo ông Ánh cần được phân tích kỹ hơn như quyền định giá đối với hàng hoá dịch vụ quan trọng (xăng dầu, điện, nước…), quyền “lời ăn, lỗ nhà nước chịu”, quyền tiếp cận đất đai giá “rẻ bất ngờ”, quyền ghi thu ghi chi, nợ thuế, xin bổ sung vốn sau khi làm mất vốn do thua lỗ, quyền “mua đắt bán rẻ” máy móc thiết bị, quyền có thu nhập cao vượt nhiều lần quy định của Nhà nước bất chấp hiệu quả kinh doanh, quyền bổ nhiệm cán bộ không căn cứ vào khả năng trình độ quản lý kinh doanh…

Ông Ánh còn đặc biệt nhấn mạnh việc ôm đồm trong quản lý tập đoàn, tổng công ty, phân cấp quản lý vượt quá khả năng quản lý trong khi không gắn quyền lợi với trách nhiệm, tạo ra tình trạng vừa chồng chéo vừa bỏ trống và “quyền lực ảo” trong quản lý doanh nghiệp nhà nước. 

Tạm dừng khi thời gian làm việc buổi chiều ngày 8/4 đã hết, song phiên thảo luận cũng đã ghi nhận khá nhiều ý kiến "phê" doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt, quan điểm được khá nhiều ý kiến đồng thuận là cần tư duy lại vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Vấn đề này VnEconomy xin được đề cập sâu hơn ở một bài viết sau.

Đầu giờ ngày thứ hai của diễn đàn, phiên thảo luận về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục sôi nổi với điểm nhấn là phát biểu của "người trong cuộc", Chủ tịch Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam, đại biểu Quốc hội Trần Xuân Hòa.

"Xin phát biểu nhưng hơi lo lắng với cương vị bệnh nhân và tội đồ, có gì không phải mong xá tội", ông Hòa nói.

Nhấn mạnh là không bảo vệ cho tập đoàn, ông Hòa tỏ thái độ ngạc nhiên khi thấy nhiều ý kiến cho rằng các doanh nghiệp nhà nước có lợi thế trong việc tiếp cận tài nguyên, đất đai.

Dẫn chứng "phản biện" được ông Hòa đưa ra là mặc dù từ 2008 Thủ tướng Chính phủ đã hai lần có văn bản giao cho tập đoàn chủ trì phát triển công nghiệp titan Việt Nam với 1.500km2 ở  Ninh Thuận, Bình Thuận và bắc Bà Rịa – Vũng Tàu, tập đoàn đã cử không biết bao nhiêu đoàn đi nước ngoài, đối tác muốn cho xem mẫu titan nhưng đến nay vẫn chưa có giấy phép nào, chưa có m2 titan nào, trong khi đó bộ chuyên ngành và địa phương đã cấp hàng ngàn giấy phép về ti tan. Như vậy tập đoàn nhà nước lợi thế thế nào?

Tập đoàn muốn có đất làm văn phòng nhiều khi phải thuê qua tư nhân, ông Hòa nói thêm.

Vị đại diện doanh nghiệp nhà nước duy nhất đăng đàn tại diễn đàn cũng không quên nhấn mạnh rằng "năm nay là năm cực kỳ khó khăn của doanh nghiệp". Ngân hàng đã nói hạ lãi suất nhưng tập đoàn vẫn phải vay đến 18,5% còn nhiều doanh nghiệp khác vẫn trên 20%. Mức đó thì không có doanh nghiệp nào chịu nổi.

Nhiều doanh nghiệp trong các tập đoàn được thông báo thuế sử dụng đất tăng gấp hơn 10 lần, như vậy doanh nghiệp đang khó khăn lại thêm "quả đấm tạ", ông Hòa nói thêm.

Chủ tịch TKV cũng cho biết đã đề đạt với Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu được tổ chức hội thảo tại Quảng Ninh (nơi tập đoàn có trụ sở chính), để sau khi các đại biểu xuống hầm lò và lên lộ thiên sẽ cùng nhau trao đổi.

"4-5 năm nữa phải nhập khẩu than, mà một số diễn giả tại hội thảo này vẫn đề nghị không tăng giá, trong khi năm ngoái ngành than bù cho bên điện hơn 5.000 tỷ đồng, và so với giá xuất khẩu là chênh 1 tỷ USD. Nếu không có giá xuất khẩu thì không thể nào đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, ngành than lấy tiền đâu mà đầu tư", Chủ tịch Hòa phát biểu và nhắc lại nguyện vọng "rất muốn có hội thảo ở quảng Ninh".

Không còn thời gian để "tranh luận" với Chủ tịch Hòa, song bên lề hội thảo, có chuyên gia kinh tế đã bình luận rằng, chỉ riêng việc được Chính phủ trao quyền phát triển công nghiệp titan cũng đã là lợi thế rất lớn của TKV.

Sẽ cố gắng thu xếp buổi làm việc tại TKV trước kỳ họp Quốc hội thứ ba vào tháng 5 tới đây, Chủ nhiệm Giàu "hứa" với Chủ tịch Hòa. Đồng thời, kết thúc phiên thảo luận về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước vì lý do thời gian, dù vẫn còn khá nhiều đại biểu muốn đăng đàn.

 

 

 

Check Also

Hàng không mẫu hạm Mỹ tại Đà Nẵng

  Hàng không mẫu hạm Mỹ tại Đà Nẵng 6 tháng 3 2018 Hàng không …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *