Qủan lý giáo dục Đại học

Qủan lý giáo dục Đại học (bài của GS Nguyễn Ngọc Trân, nguyên trưởng ban Việt kiều T.Ư những năm 1980, 90)

 

Tác giả: GS. TSKH NGUYỄN NGỌC TRÂN
Bài đã được xuất bản.: 07/04/2010 06:00 GMT+7 VietNamNet

Chúng ta đều biết trong các yếu kém và bất cập của GDĐH, có những vấn đề mới phát sinh, nhưng phần lớn tồn tại từ nhiều năm nay mà vẫn chưa giải quyết được. Tại sao? Vì không nhìn ra, vì giải pháp chưa đúng huyệt, hay còn vì lý do nào khác?

Giải pháp chưa đúng huyệt?

Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa tiến hành giám sát "Về việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm báo chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học (1998-2008)". Kết quả giám sát sẽ được báo cáo với Quốc hội trong kỳ họp tới đây.

Đây là một quyết định đúng đắn và đúng lúc, đặt trong bối cảnh Đại hội Đảng lần thứ XI đang được tích cực chuẩn bị, để nhìn lại việc quán triệt và triển khai Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII)[1], ban hành đến nay đã hơn 14 năm, từ đó thấy những việc cần làm để vực dậy công tác quản lý GDĐH.

Nghị quyết đã chỉ ra khá rõ các nguyên nhân yếu kém về quản lý GD và ĐT. Từ thực tế giám sát, bài viết này nêu lên môt số đề xuất với Bộ GD và ĐT, với Chính phủ và Quốc hội, mục đích góp phần vực dậy công tác quản lý GDĐH.

Chúng ta đều biết trong các yếu kém và bất cập của GDĐH, có những vấn đề mới phát sinh [2], nhưng phần lớn tồn tại từ nhiều năm nay [3] mà vẫn chưa giải quyết được. Tại sao? Vì không nhìn ra, vì giải pháp chưa đúng huyệt, hay còn vì lý do nào khác?

Một yếu kém bất cập có thể phát xuất từ nhiều nguyên nhân. Ngược lại, một nguyên nhân có thể là xuất phát điểm của nhiều yếu kém bất cập. Do vậy, nhận diện các kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập chưa đủ. Cần thiết phải "đọc ngang các vấn đề" để thấy được nguyên nhân và các giải pháp.

Các nguyên nhân cần được phân tầng. Có nguyên nhân thuộc về cấp trường, có nguyên nhân ở cấp Bộ, cấp Chính phủ, có trách nhiệm của Quốc hội, và cao hơn nữa.

Có ý kiến cho rằng "Có nhiều nguyên nhân (…) nhưng nguyên nhân căn bản chính là sự yếu kém trong quản lý nhà nước về GDĐHc và sự yếu kém trong quản lý của bản thân các trường ĐH" [4].

Theo tôi, không thể đặt ngang hàng hai sự yếu kém và đánh giá chúng cùng là nguyên nhân căn bản! Nhận định như vậy là đánh đồng trách nhiệm. Làm như vậy, tôi e rằng rằng "khâu đột phá" sẽ nhắm không đúng đích.

Điều hành và quản lý của Bộ GD và ĐT.

+ Nhận định, chủ trương, dự án và quyết định của Bộ cần được được nghiên cứu thấu đáo trước khi đưa ra.

Dự án đào tạo 20.000 tiến sĩ đến năm 2012 rồi thời hạn cứ lùi dần, thậm chí ít được nhắc đến, có lẽ vì không khả thi, là một ví dụ khá điển hình về sự vội vã, nghiên cứu chưa thấu đáo. Đó là chưa nói đến câu hỏi mục tiêu của dự án là vì thành tích hay đào tạo vì sự phát triển đất nước.

Tháng 10.2009, Bộ nhận định những hạn chế, yếu kém trong hệ thống GDĐH là do bốn quy luật đã bị vi phạm: Quy luật sư phạm, quy luật quản lý hệ thống, quy luật kinh tế và quy luật xã hội. Tháng 01.2010, lại xuất hiện thêm quy luật về "tiếp thu, áp dụng, phát triển tri thức mới, công nghệ mới" [5]. Cụm từ "quy luật" được sử dụng có quá dễ dãi không? Nội hàm của quy luật được hiểu như thế nào? Quy luật sư phạm hay nguyên tắc sư phạm? Quy luật quản lý hệ thống hay khoa học quản lý hệ thống?

+ Việc cho phép thành lập trường ĐH cần nhất quán và nghiêm minh

Lý luận thì như vậy, nhưng thực tế thì sao? Một trường trung cấp phải hội đủ điều kiện mới có thể trở thành một trường cao đẳng. Một trường cao đẳng để trở thành một trường ĐH đòi hỏi một sự thay đổi về lượng và về chất về nhiều mặt. Thế nhưng, trong mấy năm qua, 185 trường trung cấp đã được nâng cấp thành cao đẳng, 60 trường cao đẳng đã được nâng cấp thành ĐH. Có cả 12 trường đã được nâng cấp hai lần từ trung cấp thành ĐH! Ai đã cho phép nâng cấp, và ai đã xem nhẹ những điều kiện căn bản để nâng cấp? Đây là một ví dụ về sự quản lý và điều hành tùy tiện.

+ Thay vì nói nhiều về thực hiện tự chủ, hãy mạnh dạn phân cấp, hãy nói không với quản lý ôm đồm, bao biện.

Bộ yêu cầu các trường phải thực hiện quyền tự chủ và nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm trước xã hội và nhà nước theo quy định của Luật Giáo dục. Bộ thông báo "sắp tới sẽ có điều chỉnh theo hướng, hiệu trưởng có quyền trả lương theo hiệu quả công việc. Để làm việc đó, hiệu trưởng phải xác định sẵn sàng không làm hài lòng một số người nếu họ làm không tốt và ngược lại, phải có trách nhiệm làm hài lòng những người đã làm tốt hơn. Như vậy, một bên sẽ căng thẳng, nhưng về lâu dài, nhà trường sẽ phát triển. Vấn đề này không ai làm tốt hơn hiệu trưởng. Bộ trưởng làm không được" [6].

Sắp tới là khi nào, và tại sao suốt thời gian qua không điều chỉnh? Nhưng quan trọng hơn là đòi hỏi như vậy ở hiệu trưởng các trường ĐH, nhất là các trường công lập, liệu có quá đáng hay không khi mà cơ chế tài chính, cơ chế tổ chức nhân sự và cách quản lý của Bộ vẫn như hiện nay?

Giám sát vừa qua cho thấy mối quan hệ giữa Bộ với các trường ĐH, đặc biệt với các ĐH Quốc gia, và nhất là các ĐH vùng, hiện nay khá rối ren và gây nhiều bức xúc cho các trường ĐH thành viên. Mối quan hệ này cần được giải quyết sớm trên cơ sở một sự phân cấp, phân quyền hạn rõ ràng, minh bạch, bởi lẽ trên thực tế Bộ vẫn quản lý xuyên suốt thông qua các vụ chức năng, chưa sẵn sàng san sẻ quyền lực [7].

Với sự phát triển của công nghệ thông tin, khoa học quản lý hệ thống hướng về mô hình mạng, phân cấp, phân quyền hạn mạnh hơn, đi đôi với tăng cường công tác thanh tra kiểm tra, thay thể mô hình hình tháp vừa lỗi thời vừa là khe hở cho cửa quyền và tiêu cực phát sinh. Để không bị lạc hậu và vì lợi ích của ngành, Bộ cần sớm đổi mới phương thức quản lý hệ thống của mình.

+Phương thức quản lý nhà nước của Bộ vẫn là cơ chế xin-cho, nặng về quản lý ban đầu, xử phạt không nghiêm minh.

Có quá nhiều chỉ tiêu và tiêu chí mà Bộ yêu cầu các trường khai báo để thực hiện "ba công khai", "chuẩn đầu ra" để làm "thước đo chất lượng" đào tạo ĐH, để "chuẩn hóa" đội ngũ lãnh đạo các trường, để giao chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm, v.v. … để xin và được cho. Có không ít trường khai man, nhưng Bộ vẫn du di, thậm chí tỏ ra thông cảm, hoặc phạt nhẹ nhàng chẳng khác gì khuyến khích người vi phạm tiếp tục làm sai [8].

+ Phải thể hiện được năng lực quản lý nhà nước về ngân sách nhà nước, và đề xuất một cơ chế tài chính phù hợp cho phát triển GDĐH.

Ngân sách nhà nước dành cho GD và ĐT không ngừng tăng trong các năm qua và đạt 20% tổng chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, Bộ chưa thể hiện được năng lực quản lý nhà nước của mình trong vấn đề sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước này và chưa giám sát được việc sử dụng học phí ĐH. Qua nhiều nhiệm kỳ Chính phủ, Bộ vẫn chưa xây dựng và bảo vệ được một đề án về cơ chế về tài chính cần thiết cho sự phát triển của GDĐH trong điều kiện một đất nước còn nghèo.

Điều hành của Chính phủ

+ Chính phủ có trách nhiệm không nhỏ về sự yếu kém trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vì đã trình hai dự thảo Luật GD 1999 và 2005 có nhiều điều khoản phải được cụ thể hóa bằng nghị định, hoặc được giao cho Bộ trưởng quy định, đến mức cho đến nay, các văn bản pháp quy này không được ban hành đủ và kịp.

+ Chính phủ đã chậm thể chế hóa Điều 20 của Luật GD 2005 và làm rõ nội hàm của xã hội hóa trong lĩnh vực GD nói chung, GDĐH nói riêng, khiến cho việc xã hội hóa GD bị tha hóa.

+ Trong công tác xây dựng các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật GD, có tình trạng "khó tạo được sự đồng thuận giữa các cơ quan", "nhiều trường hợp quan điểm của cơ quan chủ trì soạn thảo và các đơn vị chức năng chưa thống nhất, dẫn đến nhiều văn bản phải làm đi làm lại nhiều lần" [9]. Nếu thế thì việc sửa đổi cơ chế tài chính, cơ chế nhân sự sẽ gian truân ra sao nữa! Phải chăng sự quán triệt NQTW2 (khóa VIII) chưa đủ sâu sắc chính nó là trở lực để các thành viên Chính phủ cùng ngồi lại với nhau tìm cho được tiếng nói chung theo tinh thần "phát triển GD là quốc sách hàng đầu"?

+ Hội đồng Quốc gia GD hầu như không còn hoạt động trong những năm gần đây và đã không phát huy chức năng được ghi trong nghị quyết.

Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã nêu rõ "Chính phủ và các cơ quan nhà nước chưa có những quyết định đủ mạnh về chính sách, cơ chế và biện pháp tổ chức thực hiện, để thể hiện đầy đủ quan điểm coi GD -ĐT là quốc sách hàng đầu" và đã nghị quyết về việc "thành lập Hội đồng Quốc gia GD với nhiệm vụ cấp bách trước mắt là giúp Chính phủ tổng kết công cuộc đổi mới về GD và soạn thảo chiến lượcGD- ĐT". Ở cấp độ Chính phủ cũng vậy, các nguyên nhân của yếu kém hầu như vẫn còn đó.

Trách nhiệm của Quốc hội

Cuôc giám sát về "việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo đối với GDĐH", cho dù có hơi muộn, được xã hội quan tâm theo dõi, hoan nghênh và chờ đợi kết quả.

Theo tôi, Quốc hội cũng có phần trách nhiệm trong những yếu kém và bất cập.

+ Quốc hội đã thông qua Luật GD năm 1999 và Luật GD năm 2005 trong khi hai dự thảo Luật còn là những luật rất khung, nhiều điều khoản giao về cho Chính phủ và Bộ GD và ĐT quy định.

Đã vậy, Quốc hội đã không giám sát sát sao tình hình ban hành các văn bản dưới luật cho Luật GD.

Điều 20 của Luật GD năm 2005 chậm được thể chế hóa, trách nhiệm của Quốc hội không nhỏ. Trước tiên vì đã không giám sát việc thể chế hóa điều này bằng các văn bản dưới luật; kế đến vì Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ giải thích luật (Điều 91, khoản 3 của Hiến pháp).

+ Học phí là một vấn đề rất nhạy cảm đối với xã hội, và cần thiết đối với chất lượng của GDĐH. Tới nay Quốc hội chưa yêu cầu Chính phủ trình bày thực trạng, các phương án, cùng lúc với cơ chế tài chính cho GDĐH, và các biện pháp giải quyết, để trên cơ sở đó, Quốc hội, các đại biểu Quốc hội thảo luận, đi đến sự đồng thuận của xã hội, và nếu cần ra nghị quyết về học phí.

Hợp tác quốc tế trong GD ĐH

Đất nước đang hội nhập với thế giới, việc hợp tác quốc tế trong GDĐH là hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng trong việc tiếp thu tri thức, kinh nghiệm quản lý và nâng cao nguồn lực cho giáo dục đại học. Từ thực tế giám sát, theo tôi, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần báo cáo với Quốc hội ba vấn đề dưới đây.

Vấn đề xây dựng mới 5 trường ĐH đẳng cấp quốc tế.

Vì tầm quan trọng của chủ trương, Quốc hội cần được thông tin rõ ràng từ Bộ về vấn đề này. Chủ trương, lộ trình đầu tư và lộ trình đi vào họat động, kinh phí và phương án kinh phí để đạt được mục tiêu đề ra, nguồn vốn là từ ngân sách nhà nước, hay vốn ODA (vay hay viện trợ không hoàn lại), tính chất của trường (công lập ?), ai quản lý và cơ chế quản lý? Cần được trình bày rõ.

Mỗi dự án trường đẳng cấp quốc tế đã có báo cáo nghiên cứu khả thi và luận chứng kinh tế chưa? Cấp nào phê duyệt?

Tôi vẫn chưa lý giải được tại sao không xây dựng từ các trường công lập hiện hữu, đã có truyền thống giảng dạy và nghiên cứu, có uy tín trong nước và quốc tế để thừa hưởng được đội ngũ có kinh nghiệm và cơ sở vật chất của trường, trong khi mà các trường này rất cần được đầu tư để tiếp tục phát triển và có những cống hiến quan trọng hơn nữa?

Có đúng là Bộ có chủ trương xây dựng các trường đẳng cấp quốc tế hoàn toàn mới, không phụ thuộc vào lối mòn, vào quá khứ, thoát ly cơ chế quản lý hiện hành để nhanh chóng có chỗ trong một tốp 100, 200 nào đó hay không, và chính chủ trương này đã loại bỏ phương án xây dựng các trường đẳng cấp quốc tế từ những trường đại học giỏi hiện hữu hay không?

Những "trắc trở" ở Trường ĐH Việt Đức là gì và bài học gì rút ra được từ đó, cũng cần được giải trình với đoàn giám sát.

Xu hướng nhập khẩu giáo trình

Các trường ĐH tư thục nhập khẩu giáo trình đang là một thực tế và theo tôi nghĩ Quốc hội cần quan tâm.

Bộ dự báo xu hướng này ra sao và có chủ trương gì về vấn đề này hay để thả nổi, tự phát? Các mặt lợi và bất lợi trong việc nhập khẩu giáo trình, theo phân tích của Bộ là gì ?

Giáo trình là một loại hàng hóa rất đặc biệt. Người nhập khẩu phải có đủ trình độ mới có thể lựa chọn tốt được. Người dạy cũng phải có trình độ tối thiểu mới truyền đạt được nội dung. Mặt khác, đằng sau các môn học về khoa học tự nhiên và công nghệ là máy móc, thiết bị khá đắt tiền, đằng sau các môn học về kinh tế, tài chính, là các học thuyết về kinh tế, về phát triển, đằng sau các môn học về xã hội nhân văn là các quan điểm về triết học, về chính trị, về thang giá trị mang dấu ấn của tác giả và của bên bán.

Sau nữa, ở hầu hết các nước trên thế giới, mô hình ĐH hiện nay là 8 năm, sau 12 năm phổ thông, 3+2+3, để đi đến tiến sĩ, hoặc 9 năm 4+2+3 (nếu phổ thông là 11 năm). Giáo trình đều dạy hầu hết theo tín chỉ. Do đó, mua một giáo trình là tiếp nhận sự lắp ráp một số tín chỉ trong một tổng thể các tín chỉ có liên kết để hình thành một ngành học, trong một bậc học.

Không phải giáo trình nào được các trường ĐH bên ngoài "tiếp thị" cũng là hàng tốt. Trình độ và bản lĩnh của người nhập và người dạy là hết sức quan trọng để biết tiếp nhận có chọn lọc.

Về kết quả của Chương trình 322 đào tạo sau ĐH

Tôi thiết nghĩ Quốc hội cần biết kết quả của Chương trình học bổng 322 đào tạo sau đại học. Cụ thể, tổng số nghiên cứu sinh đã gửi đi từ khi Chương trình bắt đầu đến nay, số người đã tốt nghiệp, số người đã về nước theo hợp đồng đào tạo, công việc họ đang làm sau khi tốt nghiệp. Hy vọng rằng đội ngũ giảng viên đại học đã được tăng cường không ít nhờ ở Chương trình 322 này.

[1] Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000. (24.12.1996).

[2] Ví dụ như các trường đại học được thành lập rất nhiều trongnhững năm gần đây, trong đó có sự chuyển đổi của nhiều trường từ trung cấp lên cao đẳng, rồi từ cao đẳng lên đại học.

[3] Chính Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo đã nói rằng tỉ lệ giảng viên có trình độ trên sinh viên đã 23 năm rồi chưa được cải thiện. Báo cáo về sự phát triển của hệ thống GD ĐH ngày 29.10.2009 do Bộ trưởng ký đã khẳng định "gần 30 năm, chúng ta chưa thực sự quản lý được chất lượng giáo dục đại học".

[4] Xem Chỉ thị 269/CT-TTg ngày 27.02.2010. Tác giả tô đậm để lưu ý.

[5] Nghị quyết số 05-NQ/BCSD của Ban Cán sự Đảng Bộ GD&ĐT, ngày 6.1.2010.

[6] Phát biểu được ghi âm của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị được tổ chức ngày 6/3/2010 qua cầu truyền hình trực tiếp tại 6 điểm: Hà Nội, Thái Nguyên, Vinh, Đà Nẵng, TP.HCM và Cần Thơ.

[7] Xem Một số vấn đề của giáo dục đại học ở Huế – Đà Nẵng, Báo Đất Việt, số ra ngày 23.03.2010.

[8] Ví dụ những sai phạm nghiêm trọng tại trường đại học Phan Thiết trong việc thành lập trường, và trong tuyển sinh năm học 2009-2010.

[9] Trích từ Báo cáo tổng kết ba năm thi hành Luật Giáo dục (2006-2008) kèm theo Tờ trình số 122/TTr-CP ngày 6/8/2009 của Chính phủ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *