Giáo sư Trần Văn Giàu qua đời


Notice: Undefined index: tie_hide_meta in /var/www/html/wp-content/themes/sahifa/framework/parts/meta-post.php on line 3

Giáo sư Trần Văn Giàu qua đời

 

GS Trần Văn Giàu: Đi trọn cõi nhân sinh

Trần Văn Giàu đã sống trọn vẹn cái giới hạn của cõi nhân sinh, theo quan niệm thời xưa là một bậc đại phúc. Con số 100 dường như ứng nghiệm với đôi câu đối đúng 100 chữ mà giáo sư Hoàng Như Mai viết tặng ông khi mừng sinh nhật lần thứ 85.

Thiếu đi nhà cách mạng, thêm vào một nhà giáo dục, nhà văn hóa
 

Năm 1949, Trần Văn Giàu được điều động ra chiến khu Việt Bắc nhận nhiệm vụ Tổng giám đốc Nha Thông tin – Tuyên truyền. Hai năm sau (1951), ông được giao trách nhiệm đặt nền móng cho ngành Giáo dục đại học của nước ta, chuẩn bị cho việc xây dựng đất nước sau này.

Đây là một bước ngoặt trong cuộc đời Trần Văn Giàu. Thiếu đi một nhà cách mạng chuyên nghiệp, đất nước ta có thêm một nhà giáo dục, nhà văn hoá uyên thâm nhiều lĩnh vực và chủ yếu trong ngành sử học.

Bắt tay vào nhiệm vụ mới, ông đã cùng với các trí thức lớn như Đặng Thai Mai, Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Đức Chính, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Cao Xuân Huy… thành lập Trường Dự bị Đại học ở Thanh Hoá, triệu tập trên dưới 100 thanh niên, đa số đã có bằng tú tài đang công tác ở nhiều ngành hoặc dạy học.

 

"Bác Sáu Giàu là người tài đức, có khả năng đặc biệt trong việc quy tụ được nhiều anh em trí thức. Ông có phong cách trí thức, sâu sắc nhưng rất khiêm tốn, giao thiệp với ai cũng được lòng mọi người" – Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu.
 

Ngôi trường kháng chiến đơn giản đến mức không thể đơn giản hơn nhưng hiệu quả và đầm ấm lạ thường. Các lớp thường học vào ban đêm, mỗi sinh viên một chiếc ghế nhỏ như ghế các bà bán hàng rong ngoài phố. Ánh sáng là một ngọn lửa leo lét làm từ chiếc lọ pênixilin đựng dầu lạc phía trên có ngọn bấc. Lớp học tù mù, sinh viên không nhìn rõ mặt thầy song nghe như nuốt từng lời giọng thầy sang sảng truyền thụ những kiến thức cổ kim đông tây.

Lớp học ấy là khởi nguồn một thế hệ trí thức mà giờ đây hầu hết đều đã trở thành các nhà lãnh đạo quản lý, các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia lớn của đất nước về khoa học và giáo đục…

Năm 1954, hoà bình lập lại. Trần Văn Giàu là Bí thư Đảng uỷ trường Đại học Sư phạm, kiêm giảng dạy các môn khoa học chính trị, triết học, lịch sử cận hiện đại thế giới và lịch sử cận đại Việt Nam. Năm 1956, khi trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập, ông là Bí thư Đảng uỷ của trường kiêm chủ nhiệm sáng lập khoa Lịch sử. Từ năm 1960 đến 1975, ông công tác tại Viện Sử học Việt Nam để tập trung vào nghiên cứu Sử học.

Để cung cấp cho sinh viên những tri thức cơ bản và quan điểm triết học macxit, ông đã viết những cuốn sách đơn giản mà thiết thực như Triết học cơ bản, Biện chứng pháp, Vũ trụ quan, Duy vật lịch sử… Đó là những công trình mang tính tiên phong, trang bị cho lớp thanh niên trí thức một phương pháp tư tưởng làm hành trang để đi vào khoa học nói chung, khoa học xã hội và nhân văn nói riêng.

 

 

Ông đã chọn Lịch sử cận đại và hiện đại làm đối tượng nghiên cứu. Và ông đã trải nghiệm lịch sử cận-hiện đại bằng cả cuộc đời của minh.

Ngoài việc truyền thụ kiến thức, rèn luyện phương pháp tư duy và nghiên cứu cho sinh viên, mà một số học trò ruột của ông đã trở thành những trụ cột của ngành Sử học Việt Nam, Giáo sư Trần Văn Giàu còn là một nhà sử học có số công trình nghiên cứu đồ sộ hiếm thấy, nằm trong danh mục trích dẫn của hầu hết công trình nghiên cứu sau này về lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Công trình nào cũng qui mô cỡ vài ba ngàn trang in với những bộ sách tiêu biểu: Lịch sử cận đại Việt Nam (chủ biên), Sự khủng hoảng của chế độ nhà Nguyễn trước năm 1858, Lịch sử chống xâm lăng (3 tập, 1956-1957), Giai cấp công nhân Việt Nam (4 tập, 1961), Miền Nam giữ vững thành đồng (5 tập, 1964-1978).

Bằng những tác phẩm quan trọng ấy, ông như một cây cổ thụ che rợp bóng cho một giai đoạn lịch sử đầy  biến động của đất nước. Bất cứ một tác giả nào, trong và ngoài nước, muốn tìm hiểu Việt Nam cận – hiện đại không thể bỏ qua được các bộ sách này như một nguồn tài liệu tham khảo chủ yếu.

Ông viết sử một cách sinh động và hình ảnh. Đọc sách của ông, người đọc sẽ thấy tái hiện rất cụ thể những cuộc chuyển mình đầy đau thương mà vĩ đại của dân tộc với ngồn ngộn những tư liệu và số liệu chứng minh.

Ông tuân theo cách viết mình đề ra: "việc có ngày tháng, người có tên tuổi", không chung chung nên hết sức thuyết phục.

Viết về giai cấp công nhân Việt Nam, ông đã được sống đồng thời với những sự kiện chính trị lớn, đã từng tham gia các phong trào, biết tường tận, chính xác nhưng không bao giờ chỉ tin vào trí nhớ của mình mà luôn luôn tra cứu cẩn trọng.

Những điều viết ra đều được ông tìm hiểu thấu đáo, tích lũy tư liệu hết sức dồi dào từ nhiều phía, nhiều nguồn để có một cái nhìn toàn diện, đa chiều, tránh sự chủ quan mà nhiều người thường mắc, lợi dụng tư liệu để minh hoạ cho định kiến chủ quan của mình.

Trong lời giới thiệu Tuyển tập các công trình của ông, Giáo sư Vũ Khiêu nhận xét "Các tác phẩm về sử học của giáo sư Trần Văn Giàu đều có sức hấp dẫn của Văn và chiều sâu của Triết. Ở giáo sư trong Văn có Triết và trong Triết có Văn. Cả hai đều được lý giải vững vàng, gắn liền với sự chứng minh của sử học".

Có thể nói mảng tâm đắc nhất, dành nhiều công sức nhất của Giáo sư Trần Văn Giàu, thể hiện sự nghiền ngẫm, đúc kết mà ông viết ròng rã trong gần 20 năm (1973-1993) là công trình bộ ba "Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám" , hoàn thành ở tuổi 80.

Thoát khỏi tính sử liệu, giáo trình mà đi vào nghiên cứu lý luận sâu sắc. Trong hơn một ngàn trang sách, ông trình bày đặc điểm và sự thất bại của ý thức hệ phong kiến và ý thức hệ tư sản trước tình hình mới của đất nước, đồng thời khẳng định tính khoa học và nhiệm vụ lịch sử của hệ ý thức giai cấp công nhân Việt Nam.

Song ông vẫn chưa cho mình quyền được nghỉ ngơi. Ba năm sau, ông hoàn thành một công trình nữa có liên quan là "Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam" tập trung giới thiệu và khẳng định những giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc ta trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Toàn bộ công trình về Lịch sử Việt Nam gồm 5 bộ, 18 tập (1956-1957) tổng cộng vài vạn trang in của Giáo sư Trần Văn Giàu được Nhà nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt 1, năm 1996.

Tuy nhiên, vấn đề Trần Văn Giàu quan tâm không chỉ là Triết học và Sử học, mà còn bao trùm các lĩnh vực khác của Khoa học xã hội và nhân văn. Một số công trình nhỏ hơn trong khoảng 150 công trình ông để lại dành cho kinh tế, chính trị, khảo luận văn chương với cách kiến giải đặc sắc. Không chỉ là một nhà sử học trong số 3 cây đại thụ của Sử học Việt Nam (Trần Huy Liệu, Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu), ở sự nghiệp thứ hai này, ông còn là một nhà văn hoá lớn

Nhà cách mạng lỗi lạc, nhà giáo nhân dân tận tuỵ, nhà sử học uyên thâm và khách quan đã đi vào thế giới thiên thu ở tuổi 100 tròn. Trần Văn Giàu đã sống trọn vẹn cái giới hạn của cõi nhân sinh, theo quan niệm thời xưa là một bậc đại phúc. Con số 100 dường như ứng nghiệm với đôi câu đối đúng 100 chữ mà giáo sư Hoàng Như Mai viết tặng ông khi mừng sinh nhật lần thứ 85:

–         Tám lăm năm trên mặt địa cầu, có phen lội sình lầy, có phen vượt núi băng ngàn, có phen giẫm tuyết đạp băng nơi đất lạ và có phen mang xiềng gang xích sắt chốn lao tù… Đôi chân ấy bước qua thế kỉ vẫn còn dư sức lực.

– Một đời sống trong lòng quần chúng, đã từng làm "phiến loạn", đã từng điều binh khiển tướng, đã từng dạy sử, luận triết trong giảng đường, lại đã từng bị kiểm thảo và phê bình quan điểm (!)… Con người này phục vụ nhân dân kể cũng lắm công lao.

 

 

Vĩnh biệt một người hiền

Thứ hai, 20/12/2010, 03:28 (GMT+7) SaiGon GiaiPhong Online

Ngày 16-12, giữa lúc đang ăn cơm chiều, tôi liên tiếp nhận được mấy cuộc điện thoại và tin nhắn, nội dung là một: Giáo sư Trần Văn Giàu đã từ trần! Miếng cơm trong miệng tôi tự nhiên đắng chát. Tôi bỏ dở bữa cơm dù chưa ăn hết chén đầu tiên. Buồn quá! Những học trò cũ của Thầy cũng như bất cứ ai biết và quý trọng Thầy đều hiểu ngày vĩnh biệt đấy sẽ sớm đến và đạt đến ngưỡng tròn 100 tuổi quả đã là đại đại thọ. Thế nhưng ai cũng muốn Thầy tiếp tục cuộc chiến chống lại tử thần như Thầy đã vào cuộc một cách kiên cường gần 11 tháng nay. Bởi lẽ sự hiện diện của Thầy là ngọn cờ tinh thần lặng lẽ nhưng mãnh liệt, cổ vũ thế hệ hậu sinh sống sao cho trong sạch, thủy chung, dâng hiến hết mình cho lý tưởng cao đẹp mà mình đã chọn, mục tiêu tích cực mà mình muốn vươn tới.

Ước muốn là vô cùng, nhưng lẽ sinh tử lại khắc nghiệt. Và Thầy đã ra đi, nếu tôi không lầm thì hoàn toàn thanh thản.

Gs Trần Văn Giàu. Ảnh: MAI HẢI

Nghĩ về người đã khuất, trước hết tôi trân trọng thiên chức  người Thầy cao quý mà Thầy đã đảm nhiệm xuất sắc non 80 năm nay. Lúc mới hơn 20 tuổi, từ Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) về nước, Thầy nhanh chóng hòa vào dòng chảy sôi sục của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Bốn lần bị giam cầm, 12 năm ròng đã bị đày ải trong các ngục tù khét tiếng ác độc như Côn Đảo, Tà Lài; nhà cách mạng Trần Văn Giàu sớm nhận ra tầm quan trọng của việc nâng cao dân trí. Cùng với một số trí thức cách mạng khác, Thầy đã biến nhà tù thành trường học, đã giúp những người cùng lý tưởng với mình vốn xuất thân từ giai cấp áo nâu, áo xanh thoát khỏi mù chữ và có những hiểu biết sơ giản, tối thiểu nhưng tường minh về chính trị. Rồi từ năm 1951 trở đi, vượt trên nghịch cảnh chuyển hẳn sang lĩnh vực giáo dục.

Ngẫm ra, cuộc sống luôn diễn ra cảnh “Tái Ông mất ngựa”. Mất đấy, hóa ra lại được. Được đấy, chắc gì đó là may mắn, hạnh phúc. Nhiều chục năm qua, việc Thầy chuyển sang ngành giáo dục lại “rất hay”. Thầy có niềm vui vì được góp phần đào tạo trí thức cấp cao cho một đất nước đang tụt hậu về dân trí. Lớp lớp thế hệ trí thức khoa học xã hội bội phần sung sướng vì có được một người thầy tâm sáng, trí cao, thực sự mẫu mực về phương diện lối sống, phong cách sống.

Nghĩ về người đã khuất, tôi thành kính vọng tưởng đến một nhà khoa học suốt đời tận tâm tận lực sáng tạo những công trình có giá trị học thuật cao. Giáo sư Trần Văn Giàu trong 60 năm qua đã viết hơn 150 công trình nghiên cứu về triết học, lịch sử, tư tưởng, văn học.

Ngay lúc dạy trường Dự bị đại học (đặt ở Thanh Hóa và Nghệ An) thời kháng chiến chống Pháp, Thầy đã khởi thảo 3 công trình mang ý nghĩa tạo nền cho việc nghiên cứu triết học Macxit: Biện chứng pháp, Vũ trụ quan, Duy vật lịch sử. Ngay sau khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, 3 tập giáo trình in roneo bằng giấy thủ công kháng chiến ấy mới được bổ sung, chỉnh lý và in ấn chính quy.

Thầy cũng quan tâm đến lĩnh vực lịch sử tư tưởng của dân tộc. Không kể nhiều bài báo khoa học, Thầy cho công bố 2 công trình quan trọng: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ 19 đến Cách mạng Tháng Tám (1990) và Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam (1993). Trong cả 2 công trình này, Thầy đã có cái nhìn bao quát, giới thiệu và khẳng định những phẩm chất, đặc điểm tinh thần tốt đẹp của dân tộc ta suốt trong trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước.

Không đặt vấn đề chuyên sâu vào địa hạt văn học, nhưng Thầy cũng đã có những đóng góp đáng quí qua một hệ thống bài viết giàu tính phát hiện về những tác gia đặc biệt và tác phẩm xuất sắc của văn học trung đại (Lý Thường Kiệt với Nam quốc sơn hà, Trần Quốc Tuấn với Hịch tướng sĩ…). Tôi cũng không hiểu Thầy lấy đâu ra thời gian để theo dõi khá sát sao tình hình văn học của cả hai miền Nam Bắc, để rồi kịp thời có ý kiến về những tác phẩm đang được người đọc chú ý như Bất khuất, Những ngày gian khổ…

Với tinh thần “mắt xanh tri kỷ”, Thầy đã có bài viết công phu sâu sắc về hai tập bút ký chính luận xuất bản ngay giữa Sài Gòn đầu những năm 70 của thế kỷ trước: Cho cây rừng còn xanh lá (của Nguyễn Ngọc Lan), Bọt biển và sóng ngầm của Lý Chánh Trung (Tạp chí Văn học số 2, 1974). Sau này có dịp gặp linh mục Nguyễn Ngọc Lan, tôi biết ông tỏ ra rất tâm đắc với bài viết của nhà học giả Macxit Trần Văn Giàu.

Thầy dành rất nhiều thời gian cho lĩnh vực sử học và là nhà nghiên cứu hàng đầu về lịch sử cận hiện đại của dân tộc. Không kể những công trình Thầy tham gia với tư cách chủ biên, cần trân trọng nhắc tới ba bộ sách lớn – kết quả của nhiều năm làm việc hết sức cần mẫn: Chống xâm lăng (ba tập, 1956 – 1957), Giai cấp công nhân Việt Nam (bốn tập, 1961), Miền Nam giữ vững thành đồng (năm tập, 1964 – 1978)

Là học trò, chúng tôi cảm nhận sâu sắc động cơ cầm bút cao cả của Thầy. Viết về lĩnh vực nào, về đề tài gì, Thầy đều xác định thế đứng vững vàng của một nhà yêu nước chân chính. Chúng tôi còn học Thầy ở tinh thần, thái độ lao động khoa học trung thực. Thầy chỉ viết sau khi tìm hiểu thấu đáo đối tượng nghiên cứu, tập hợp thật dồi dào, phong phú những tư liệu tham khảo cần thiết. Chính vì thế những trang viết của Thầy có sức cuốn hút đặc biệt.

Nghĩ về người đã khuất, tôi hiểu Thầy là một hình ảnh tiêu biểu cho những chiến sĩ cách mạng chân chính: kiên định lý tưởng vì dân, vì nước, gian khổ không sờn lòng, hiểm nguy không nản chí. Tôi may mắn được Thầy cho đọc một số chương hồi ký về những ngày ở nhà tù Tà Lài giữa núi rừng âm u, mịt mùng chướng khí. Địa ngục nếu có thật, chắc cũng không thể ghê rợn hơn. Vậy mà Thầy vẫn giữ trọn phẩm tiết, tuyệt đối không để kẻ thù lung lạc. Chỉ cần một thoáng sơ ý của bọn giám ngục, Thầy đã cùng một số đồng chí vượt ngục, để rồi âm thầm bền bỉ gây dựng lại phong trào vừa bị địch khủng bố trắng. Tổ chức Đảng và các đoàn thể cách mạng được củng cố, kiện toàn, lớn mạnh hơn trước. Lịch sử trân trọng ghi nhận: nhân dân hơn hai mươi tỉnh thành Nam kỳ đã nhất tề đứng lên, phối hợp rất đẹp với hai miền Bắc và Trung của Tổ quốc, tiến hành thành công cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Người lãnh đạo chủ chốt cuộc nổi dậy oanh liệt đó chính là Thầy – nhà cách mạng Trần Văn Giàu, với tư cách Bí thư Xứ ủy Nam kỳ. Sau đó, khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn trở lại hòng chiếm nước ta một lần nữa, nhân dân lục tỉnh với vũ khí thô sơ trong tay, anh dũng đứng lên chặn đứng bước tiến của quân thù. Những ngày đầu chống giặc hết sức sóng gió, tương quan lực lượng tuyệt đối chênh lệch có lợi cho thế lực ngoại xâm ấy, Thầy lại đứng mũi chịu sào với trọng trách Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ.

Nghĩ về Thầy sau hơn nửa thế kỷ gần gũi, tìm hiểu, tôi mới ngộ ra một điều quan trọng: lớp lớp thế hệ học trò và biết bao đồng bào, đồng chí khâm phục Thầy về trình độ văn hóa uyên thâm, về những cống hiến đa dạng, lớn lao trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng cũng như trong khoa học. Thế nhưng chính nhân cách cao vời của Thầy mới khiến mọi người kính yêu, mến trọng. Từ con người Thầy, chữ TÂM chữ ĐỨC như luôn chói lói, rỡ ràng, cuốn hút, nhất là những lúc ngang trái, éo le.

Thầy tròn một trăm tuổi – thế là đại đại thọ, là cực hiếm. Thầy có hơn tám mươi năm tận tụy hết lòng vì hạnh phúc của nhân dân – thế là cực quý. Liệu mấy ai có được cuộc đời chất lượng rất cao như thế?

Trần Hữu Tá

Check Also

“Công nghệ giáo dục” – nên hay không, làm sao xử lý?

Hồn Việt- 05 Tháng Mười 2018 8:48   Phần I – Vài phản biện cụ …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *