Định vị Việt Nam trong thập niên mới


Notice: Undefined index: tie_hide_meta in /var/www/html/wp-content/themes/sahifa/framework/parts/meta-post.php on line 3

Định vị Việt Nam trong thập niên mới

 

Định vị Việt Nam trong thế giới của thập kỷ mới

Việt Nam bước vào thập kỷ mới của thế kỷ 21 đúng vào lúc thế giới đang có những thay đổi bước ngoặt. Định vị Việt Nam trong thế giới ấy, nhận diện những thách thức nội tại để tìm hướng bứt phá phát triển sẽ được bàn luận trong loạt bài của Nguyễn Trung.

LTS: Đánh giá một cách toàn diện cục diện thế giới và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam liên quan đến con đường phát triển, ứng xử đối ngoại… là câu chuyện có tính chiến lược đối với sự phát triển của đất nước. Không tham vọng giải quyết trọn vẹn bài toán này, song loạt bài của Nguyễn Trung hy vọng sẽ cung cấp cho độc giả một góc nhìn, một tư liệu cần tham khảo.

Bài viết dưới đây thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Mời độc giả cùng tranh luận.

Phần 1: Nhận diện thế giới mới

Việt Nam, kể từ 1986, sau một phần tư thế kỷ thực hiện sự thay đổi căn bản mang tên là đổi mới, đã kết thúc thời kỳ phát triển theo chiều rộng với nhiều thành tựu to lớn có tính bước ngoặt, thay đổi bộ mặt đất nước và được thế giới ghi nhận.

Mặt khác cũng phải tỉnh táo nhận thấy, so ta với chính ta trước kia, những thành tựu đạt được trong 25 năm qua là rất to lớn; nhưng nếu so với chặng đường 25 năm đầu tiên trên con đường trở thành NIC (nước mới công nghiệp hóa) của Hàn Quốc, Brazil… nước ta phát triển như thế là chậm, so với những thách thức hiện tại và phía trước nước ta phải đối mặt lại càng chậm. Nên có cái nhìn nhiều chiều như vậy để định liệu công việc của mình, và nhờ đó có thể "đỡ" rơi vào cái bệnh "mẹ hát con khen hay"!

Việt Nam bước vào thập kỷ 2020 đúng vào lúc kinh tế thế giới – trước hết là những nền kinh tế lớn mà đầu tầu là kinh tế Mỹ – đang tìm cách ra khỏi cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống hiện nay để tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới. Trong khi đó Trung Quốc đang dấn bước vào thập kỷ 2020 với mọi nỗ lực quyết liệt nhất để đi nhanh hơn nữa trên con đường trở thành siêu cường vào giữa thế kỷ này; giới nghiên cứu trên thế giới hầu như chia sẻ nhận định chung: Thập kỷ 2010 đánh dấu bước ngoặt mang tính thời đại của Trung Quốc trên con đường đi tới siêu cường, thập kỷ 2020 hiện tượng Trung Quốc sẽ còn nóng bỏng hơn nữa trên trường quốc tế. [i]

Thế giới đang thay đổi lớn
 

Cục diện thế giới đang có thay đổi lớn cả về kinh tế và chính trị, không náo nhiệt như khi chiến tranh Lạnh kết thúc, song hầu như tác động sâu sắc hơn nhiều đến mọi quốc gia. Thậm chí tại nhiều nước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay tác động trực tiếp đến từng gia đình.

Cuộc đại khủng khoảng kinh tế thế giới đang diễn ra là vô tiền khoáng hậu. Sau một năm ròng rã (09-2008 tới 09-2009) đánh vật với cuộc khủng hoảng này, các nền kinh tế lớn đã phải bỏ ra tổng cộng ước khoảng trên 10 nghìn tỷ USD (tương đương với 2/3 GDP của cả nước Mỹ và với 1/6 GDP toàn thế giới), đồng thời phải tiến hành nhiều liệu pháp đau đớn mang tính điều chỉnh vĩ mô và hệ thống để cứu chữa. Hiện nay cuộc khủng hoảng này được xem là đã chạm đáy, nhưng lối ra có lẽ vẫn chưa xác định được.

Khủng hoảng kinh tế

Chưa ai dám nói bao giờ và như thế nào kinh tế thế giới sẽ phục hồi và lấy lại được sự phát triển năng động đã có như trong một hai thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, có khá nhiều người trong giới nghiên cứu chia sẻ ý kiến:

1- Kinh tế thế giới hiện nay vừa phải khắc phục sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bóng của hệ thống tài chính tiền tệ thế giới, đồng thời về nhiều mặt đang phải đối phó với một cuộc khủng hoảng thừa rất sâu sắc có những thuộc tính cơ cấu[ii] còn nhiều vấn đề nan giải chưa lường hết được; một khi kinh tế thế giới ra khỏi cuộc khủng hoảng này, nó có lẽ sẽ không thể giữ nguyên cấu trúc, hình dạng và sự vận hành như trước nữa – nói cụ thể hơn: trong và sau cuộc khủng hoảng này của kinh tế thế giới, các quốc gia sẽ không thể giữ nguyên cách làm ăn như lâu nay (kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc)…

2- Cơ cấu sản phẩm trong mỗi quốc gia sẽ dần dần có những thay đổi lớn theo hướng quan tâm hơn nữa đến sự bền vững của thị trường nội địa mỗi nước và của môi trường, nghĩa là sẽ xuất hiện những điều chỉnh vĩ mô.

3- Hệ thống tài chính tiền tệ thế giới đang có những xáo trộn lớn, buộc phải cải tổ cơ bản để hạn chế những rủi ro – đặc biệt là trên 2 vấn đề: (1)sự suy yếu ngày càng nhanh chóng của đồng USD và (2) vai trò đang nổi lên đầy tính lũng đoạn của đồng Nhân dân tệ (Trung Quốc);

4- Phải tăng cường hơn nữa vai trò điều tiết của nhà nước để hỗ trợ "bàn tay vô hình" của thị trường; khung khổ WTO tuy vẫn được duy trì, nhưng chắc chắn sẽ có nhiều cọ sát mới gay gắt hơn.

5- Phải sớm có các chính sách và biện pháp thân thiện hơn với môi trường tự nhiên để giảm thiểu các đại họa. Nhiều nước đã phải hướng mạnh tới nền kinh tế có hàm lượng carbon thấp…

6- Phải thay đổi nhiều điều quan trọng trong tư duy kinh tế; một số học giả nổi tiếng như Krugman, Stiglitz, Fukuyama, thượng nghị sỹ Max Baucus… cho là kinh tế học hiện đại có nhiều điểm lỗi thời.; (thậm chí cá biệt còn có người gọi khoa kinh tế học hiện nay là "kinh tế học của đổ vỡ", coi Alan Greenspan – nguyên chủ tịch FED – là một trong những tội phạm chính của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay!)

Có thể kết luận: Hai hiện tượng nổi bật nhất trong thời kỳ hậu chiến tranh Lạnh là:

Một là, những thất bại của 2 khóa tổng thống George Bush trong chiến lược toàn cầu (chủ yếu vì tham vọng quá lớn trong chiến lược toàn cầu và do sự phá sản của chủ nghĩa tân tự do mới trong kinh tế) cùng với cuộc khủng khoảng hiện nay bùng nổ từ Mỹ – được đánh dấu bằng sự sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers ngày 14-09-2008, rồi lan tỏa thành quy mô thế giới.

Hai là, vai trò ngày càng nổi lên của các cường quốc khác – trước hết là Trung Quốc, rồi đến Nga, Ấn Độ.

Hai hiện tượng quan trọng nhất này đánh dấu sự kết thúc cục diện quốc tế hậu chiến tranh lạnh, chuyển thế giới ngày càng đi vào xu thế đa cực với một siêu đa cường.

Siêu cường Mỹ suy yếu
 

Chiến tranh Iraq và chiến tranh chống khủng bố – trước hết là chống Al-Qaeda – Taliban – không đem lại kết quả như Mỹ đề ra, thậm chí chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm, cùng với tình trạng từ năm 2008 Mỹ lâm vào khủng hoảng kinh tế nặng nề nhất trong lịch sử quốc gia này, đã dẫn tới Mỹ phải điều chỉnh căn bản chiến lược toàn cầu của mình.

Sự điều chỉnh này của Mỹ thực chất là sự thoái lui một bước quan trọng so với thời George Bush trong chiến lược toàn cầu, nguyên nhân chủ yếu do lực bất tòng tâm. Mỹ hiện nay vẫn còn là siêu cường số 1, song vai trò và ảnh hưởng của nó giảm sút đáng kể so với thời kỳ hậu chiến tranh lạnh.

Tổng thống Obama và Ngoại trưởng Clinton trong chuyến công du châu Á.

Hiện tượng Obama thắng cử không đơn thuần chỉ là một thắng lợi độc nhất vô nhị cho đến nay của thể chế dân chủ Mỹ và trên thế giới. Sâu xa hơn thế, hiện tượng Obama nói lên tầm vóc điều chỉnh chiến lược chưa từng có kể từ sau chiến tranh thế giới II mà Mỹ phải chấp nhận. Hiện tượng Obama cũng đồng thời cho thấy Mỹ quyết tâm thay đổi và có thể thay đổi được – và chính điều này cho phép Mỹ sẽ tiếp tục duy trì được – dù không còn mạnh như trước – vị trí siêu cường số 1 trên bàn cờ của một thế giới đang tiến vào cục diện một siêu đa cực. Hiện tượng Obama còn đánh dấu một thời kỳ thay đổi sâu sắc đang diễn ra sôi động ở tất cả các nước phát triển trong thề giới phương Tây – mới đây nhất là sự kiện ngày 30-08-2009 đảng Dân Chủ ở Nhật thắng cử và lên cầm quyền, chấm dứt thời kỳ đảng Dân chủ Tự do ngự trị chính quyền Nhật hơn nửa thế kỷ.

Nét nổi bật của sự điều chỉnh chiến lược của nước Mỹ thời Obama là: Mỹ quyết rút khỏi Iraq để tập trung vào các vấn đề như mặt trận chống Al-Qaeda – Taliban tại Afghanistan, vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran, vấn đề vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên… Ngày 17-9-2009 Mỹ đi thêm một nước cờ chiến lược nữa là quyết định rút bỏ kế hoạch lá chắn tên lửa Châu Âu để tăng thêm hòa hoãn với Nga (đã được Nga hưởng ứng) và tập trung cố gắng tìm kiếm các khả năng xử lý vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran. Bước đi này còn nhằm phân hóa bớt các thế lực gây sức ép khác đối với Mỹ. Quan hệ Mỹ – Nga ấm hẳn lên cho thấy tầm vóc của quyết định 17-09-2009. Những cải cách trong đối nội của nước Mỹ đang diễn ra càng làm rõ những thay đổi trong chiến lược đối ngoại của nước này.

Từ tình hình trên, có thể thấy phát biểu của Tổng thống Obama tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày 23-0-2009 ''…đã đến lúc thế giới chuyển sang một hướng mới. Chúng ta phải dấn thân vào một thời đại tiếp cận mới dựa trên quyền lợi chung và cùng tôn trọng nhau…'' không đơn thuần là một lời nói ngoại giao, mà hàm ý rõ ràng kêu gọi cộng đồng các quốc gia trên thế giới nỗ lực cho một cách sống chung mới.

Liên quan đến Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông, nhiều lần các nhà quân sự Mỹ tuyên bố (ngay từ cuối thời George Bush): Mỹ đứng ngoài việc tranh chấp biển đảo ở khu vực này, miễn là giữ được thông thương tự do trên eo biển Malacca, các quyền lợi của Mỹ ở khu vực này được bảo đảm, và không được đụng chạm đến Đài Loan. Có thể hiểu đây sẽ là ranh giới cuối cùng Mỹ sẽ có thể chấp nhận một khi tình hình đòi hỏi bắt buộc phải như vậy[iv].

Mặt khác Mỹ khuyến khích giải quyết tranh chấp trên Biển Đông trên diễn đàn đa phương giữa các nước liên quan ở Đông Nam Á. Trong cuộc điều trần về Biển Đông tháng 7-2009, Thượng viện Mỹ đã bầy tỏ mối quan ngại sâu sắc của Mỹ về tình hình Trung Quốc ngày càng lấn át về kinh tế và quân sự ở khu vực này. Cuộc điều trần này cho thấy Mỹ chủ trương phải có thái độ chủ động hơn đối với các nước trong khu vực Biển Đông, "…từ quan hệ về chính sách đến đối thoại về chiến lược, lên tới tầm mức hoạt động quân sự, bằng cách gia tăng khả năng quân sự cho các nước đối tác. Trong khi đó Hoa Kỳ cũng tăng cường hoạt động ngoại giao quân sự với Trung Quốc, gia tăng đối thoại để tránh nguy cơ tính toán sai lầm gây xung đột bất ngờ"[v].

Trong khi đó, tại cuộc họp ASEAN – Mỹ 24-07-2009 ngoại trưởng Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ với ASEAN[vi].

Trung Quốc trên đường hướng tới siêu cường

Sự lớn mạnh của Trung quốc với tính cách là "công xưởng của thế giới" đang thúc đẩy khát vọng của Trung Quốc đi nhanh trên con đường trở thành siêu cường, dự kiến là vào khoảng năm 2050, mặc dù kinh tế và nội trị Trung Quốc còn rất nhiều vấn đề nhạy cảm, thậm chí rất nhạy cảm.

Với nguồn tài nguyên Trung Quốc bằng mọi cách đem về từ khắp nơi trên thế giới, trước hết là từ châu Phi và châu Mỹ Latinh, Úc.., Trung Quốc hiện nay đứng đầu thế giới trong sản xuất nhiều nguyên liệu cơ bản như sắt, thép, đồng, nhôm, ciment..; là cường quốc thứ nhất trong xuất khẩu tầu biển, là cường quốc thứ hai sau Mỹ trong xuất khẩu ô-tô, trong vòng một vài năm tới GDP kinh tế Trung Quốc dự kiến sẽ vượt Nhật[vii]

Tận thu tài nguyên dưới chiêu bài viện trợ

Báo chí thế giới thừa nhận Trung Quốc thành công vượt xa chủ nghĩa thực dân mới của phương Tây tại châu Phi, Mỹ Latinh và một số nơi khác trên thế giới (trong đó có Đông Nam Á…). Những khoản viện trợ lớn của chính phủ Trung Quốc dành cho các quốc gia này với danh nghĩa "không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước nhận viện trợ". Trên thực tế là Trung Quốc quan hệ trực tiếp và ủng hộ giới thống trị ở những quốc gia này, bất luận bản chất những chế độ này như thế nào.

Phương thức hợp tác song phương như vậy của Trung Quốc tại những quốc gia này đang mang lại nhiều kết quả lớn cho Trung Quốc (tuy nhiên gần đây một số nước châu Phi đã phản ứng chống lại sự tham lam thái quá của Trung Quốc).

Hơn thế nữa, hiện tượng Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế ngày càng quan trọng với Iran, Iraq, với các nước và lực lượng "cánh tả" (chống Mỹ) ở châu Mỹ Latinh – nơi được coi là sân sau của Mỹ – đang làm cho Mỹ và phương Tây lo lắng.

Với nguồn dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (2100 tỷ USD) Trung Quốc đang tìm cách thay đổi hệ thống tiền tệ thế giới. Trước mắt Trung Quốc chưa thể tìm cách "hạ bệ" đồng USD (hiện nay vẫn còn chiếm tới 60% tổng giao dịch tiền tệ và thương mại trên thế giới). Song với tư cách là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, đang nắm giữ khoảng 60% trái phiếu và những giấy tờ có giá khác của Mỹ, Trung Quốc đòi hỏi đồng nhân dân tệ cũng phải được coi là phương tiện thanh toán quốc tế. Đòi hỏi này bị bác bỏ tại cuộc họp G20 (London 02-04-2009) với lý do đồng nhân dân tệ chưa phải là đồng tiền chuyển đổi tự do.

Trung Quốc chuyển sang chiến thuật mới là đòi nâng cao vai trò của Trung Quốc tham gia vào "quyền rút vốn đặc biệt" (SDR – một đơn vị được coi như là tiền của IMF) để làm yếu và tiến tới thay thế dần đồng USD.

Đồng thời Trung Quốc áp dụng các biện pháp đòi các nước có quan hệ buôn bán với Trung Quốc trực tiếp dùng đồng nhân dân tệ làm phương tiện thanh toán trong quan hệ song phương, một số nước đã chấp thuận. Có thể nói đây là một bước mới bổ sung quan trọng cho việc mở rộng quyền lực và ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới – đặc biệt là quyền lực mềm.

Trong số hàng nghìn tập đoàn kinh tế của Trung Quốc đã có nhiều tập đoàn lọt vào danh sách các nhóm TNCs top 100, TNCs top 50 của thế giới, trong đó phải kể đến tập đoàn dầu khí PetroChina có số vốn vượt 1000 tỷ USD và trở thành TNC đứng đầu thế giới về quy mô vốn[viii].

Tình hình vừa trình bầy trên cho thấy nội dung thực chất chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.

Tham vọng siêu cường quân sự

Thế giới, nhất là các nước láng giềng của Trung Quốc, ngày càng lo ngại trước hiện tượng Trung Quốc cũng đang trên đường trở thành siêu cường quân sự – đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Bình luận trên nhật báo Giải phóng quân Nhân dân (Trung Quốc) ngày 12-03-2009, Hoàng Thôn Luận viết:

"…Quyền lợi quốc gia của Trung Quốc vượt xa ra ngoài biên cương lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Trung Quốc, bao gồm cả các vùng đại dương bao la nơi các tầu chở dầu của Trung Quốc qua lại, cũng như không gian vũ trụ… Quyền lợi quốc gia Trung Quốc mở rộng đến đâu, sứ mệnh của lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) được mở rộng đến đấy!.. Đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) không chỉ bảo vệ biên giới lãnh thổ, mà còn phải bảo vệ biên giới quyền lợi quốc gia của chúng ta." [ix]

Ngân sách quốc phòng hàng năm của Trung Quốc hai thập kỷ nay thường xuyên tăng 2 con số (từ 10 đến 17%/năm). Số liệu thống kê chính thức của Trung Quốc cho biết chi tiêu quốc phòng của nước này năm 2007 ước khoảng 70 tỷ USD. Song theo đánh giá của Bộ Quốc phòng Mỹ, của RAND – cơ quan nghiên cứu của Mỹ, và của RAW (Research and Analysis Wing) – cơ quan nghiên cứu của Ấn Độ, thực chi cho ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2007 ước khoảng 138 – 156 tỷ USD, đứng vào hàng thứ 2 trên thế giới – nghĩa là ước khoảng 1/4 – 1/3 ngân sách quốc phòng của Mỹ, vượt Nga, gấp 5 lần của nước Anh, và bỏ xa Ấn Độ… Ngày 21-09-2009 Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tuyên bố nước này có hầu hết mọi hệ thống vũ khí hiện đại của các nước phương Tây.

Trung Quốc đang trở thành cường quốc vũ trụ. Hiện nay Trung Quốc đang đẩy mạnh xây dựng hải quân nước xanh (hoạt động tầm đại dương với một số hàng không mẫu hạm đang mua của Nga hoặc tự đóng lấy). Trong chuyến đi thăm Trung Quốc đầu năm 2009 của đô đốc Mỹ Timothy Keating, phía Trung Quốc đặt thẳng vấn đề để Trung Quốc quản Thái Bình Dương từ đảo Hawaii về phía Tây, phía Mỹ sẽ quản Thái Bình Dương từ Hawaii về phía Đông. Keating đã đáp lại: "No, Thanks!"[x]. Riêng trên Biển Đông, hải quân Trung Quốc giữ vị thế áp đảo, với mục tiêu là "cái lưỡi bò".

Trên nhiều phương diện, hiện tượng Trung quốc trên đường trở thành siêu cường đang là vấn đề nóng bỏng và rất phức tạp của cả thế giới. Giáo sư Thôi Lý Nhũ, chủ tịch Viện Nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại (CICIR – Bắc Kinh), một viện nghiên cứu chiến lược của Trung Quốc tầm cỡ quốc tế, đầu năm nay phát biểu thẳng thắn trước giới học giả nước ngoài: "Mười năm qua Trung Quốc đã phát triển từ một vị thế tương đối thấp lên một vị thế tương đối mạnh, vì vậy những xung đột giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài không đặc biệt quyết liệt lắm (not particularly vehement). Tuy nhiên, trong vòng mười năm tới, Trung Quốc sẽ đi tiếp từ vị thế tương đối mạnh hiện nay lên một vị thế còn mạnh hơn nữa. Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với thế giới sẽ còn lớn hơn nữa – và nỗi lo của thế giới về Trung Quốc cũng sẽ tăng theo..."

Trên thế giới, kể cả Mỹ, không ai đặt vấn đề đối đầu với Trung Quốc. Nhưng tất cả các quốc gia đều phải cùng nhau hay riêng lẻ nỗ lực tìm cách ứng xử và đối xử thích hợp nhất với hiện tượng Trung Quốc trong thế kỷ 21 này sao cho phù hợp với xu thế tiến bộ chung của loài người. Đó còn là phương thức hữu hiệu nhất, khuyến khích hay bắt buộc Trung Quốc cũng phải thích nghi với trào lưu chung của thế giới.

Quan hệ Mỹ – Trung định hình thế giới

Cũng không thể bỏ qua một thực tế khác là trong quan hệ song phương Mỹ – Trung hiện nay, phía Mỹ cũng chủ động đẩy mạnh xu thế hòa hoãn.

Đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ – Trung (khai mạc phiên đầu tiên tại Washington 27-09-2009) đã thực sự trở thành diễn đàn G2. Tại diễn đàn này Obama nói "Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ định hình cho thế kỷ 21. Sự liên hệ này làm cho nó quan trọng như bất cứ sự liên hệ song phương khác trên thế giới. Và điều này phải thực sự củng cố sự hợp tác của chúng ta. Đây là trách nhiệm mà hai bên phải gánh vác." Trong điện chúc mừng phiên họp đầu tiên của diễn đàn này, Hồ Cẩm Đào viết: "Cả Trung Quốc và Mỹ gánh vác trên vai trách nhiệm quan trọng về những vấn đề trọng đại liên quan đến hòa bình và sự phát triển của nhân loại." [xi].

Mỹ – Trung bắt tay. Ảnh: Chinadaily.

Chắc chắn rồi đây lúc hòa hoãn, lúc căng thẳng, song phía Mỹ sẽ vẫn có các bước đi tiếp mở rộng quan hệ với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực, bên nào cũng có thừa khôn ngoan giành cái lợi về cho mình.

Trên thế giới đã có nhiều ý kiến các quốc gia sẽ phải ứng xử thế nào một khi xu thế hai cực Mỹ – Trung chi phối thế giới. Như vậy, tại Đông Nam Á có thể thấy chính sách đa dạng của Mỹ nói trên đối với khu vực Biển Đông sẽ còn tùy thuộc đáng kể vào chính thái độ các nước ASEAN (đối với Mỹ và Trung Quốc), đồng thời chịu sự chi phối sâu sắc của quan hệ Mỹ – Trung.

Check Also

Hàng không mẫu hạm Mỹ tại Đà Nẵng

  Hàng không mẫu hạm Mỹ tại Đà Nẵng 6 tháng 3 2018 Hàng không …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *