Cập nhật: Tiên Lãng: Những điều không thể không nghĩ và các bài khác


Notice: Undefined index: tie_hide_meta in /var/www/html/wp-content/themes/sahifa/framework/parts/meta-post.php on line 3

Cập nhật: Tiên Lãng: Những điều không thể không nghĩ và các bài khác

 

Tiên Lãng: Những điều không thể không nghĩ

"Vụ" Tiên Lãng chưa khép lại – tòa chưa xử, những người được kiểm điểm vẫn còn đang kiểm điểm để trước hết tự vấn lương tâm mình và tiếp nữa là nhận lấy những gì cần phải nhận để rồi tự vấn tiếp – nhưng sau kết luận được cả nước đồng tình của Thủ tướng Chính phủ thì đã có thể lan man về những hệ lụy được rồi.

Tại sao người ta có thể "cưỡng" lấy được rồi bảo vệ cái sai đến cùng như vậy, từ trên xuống dưới, từ cơ quan quyền lực nọ đến bộ phận chức năng kia, "đồng thanh tương ứng" vì cái gì? Và khi đã không thể làm như vậy thì người ta lại nhất loạt im lặng, nhất loạt tự khóa mồm, khóa miệng, để đợi ngày "chìm xuồng" hay để chứng tỏ "đồng khí tương cầu"? Ừ, có thể là do thiếu hiểu biết, thiếu cập nhật nên diễn giải luật sai; có thể nữa là do phần nào đó thiếu dũng khí, biết sai mà không dám nhận bởi nếu làm vậy thì e… mất ăn luôn (theo nghĩa đen kịt như mồ hóng); nhưng bằng những luận cứ có vẻ lý tính ấy làm sao có thể giúp giải thích được việc cả một hệ thống công quyền "tắt hết điện"? Phải tìm đến chỗ nào để có thể có được câu trả lời cho cái "tại sao" đây?

Tìm đến "cấp trên" của Tiên Lãng ư? Thì ông Phó Chủ tịch thành phố đã luýnh quýnh giải đáp rồi đấy. Vả lại, từ "kinh nghiệm lịch sử", người ta có quyền và có lý hỏi rằng, nếu Thủ tướng không vào cuộc quyết liệt, nếu báo chí không "chiến đấu" đến cùng, liệu thành phố có tổ chức được – dù là vào phút 89- một cuộc họp báo để giải giới hoài nghi, minh bạch hóa các quan điểm và sự kiện như vậy không, hay là…? Có ví dụ đấy: thành phố chẳng vừa định bổ nhiệm cái "ông luýnh quýnh" ấy vào chức vụ (ở nước khác thì đã có thể từ chức được rồi) phụ trách tổ công tác triển khai kết luận của Thủ tướng đó sao?

Cái thành phố anh hùng nổi tiếng "trung dũng, kiên cường" một thời chiến tranh, cái thành phố đi đầu trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế làm nên " bốn cống, ba cầu, năm cửa ô" (đó là câu thành ngữ cửa miệng, thực tế là chín cống, bốn cầu,…) cùng với hàng trăm công trình khác những năm khó khăn nhất một thời hòa bình; và cũng chính cái thành phố ấy lại ít nhiều tự chìm khuất đi trong những tháng năm Đổi Mới (do mệt mỏi chăng?) thì nay bỗng liên tiếp trở thành tiêu điểm cho những lình xình đất đai: Ngã Năm, Quán Nam, Đồ Sơn, Tiên Lãng và "chấm, chấm, chấm". Liên tiếp vụ sau "to" hơn vụ trước, vụ nào cũng dính đến "quan". Đem cái không hiểu nổi, đem cái "tại sao" ấy hỏi người lãnh đạo vang danh một thời của thành phố Cảng, ông cười mà vẻ thì buồn:" Họa, phúc hữu môi phi nhất nhật" (thảy đều có nguyên nhân sâu xa).

*

*     *

Công luận có thể tin "vụ Tiên Lãng" rồi sẽ có được kết quả thỏa đáng trước pháp luật. Nhưng còn những "vân vân" khác ngoài luật pháp, ai sẽ xử? Và liệu có xử được không?

Những "vân vân" này mới là nguyên nhân thực sự,nguyên nhân lũng đoạn, nguyên nhân quyết định tạo nên vụ việc. Quan sát từ những động thái liên quan, từ những thông tin mà báo chí nhất loạt đưa lại, không thể không đặt ra nghi vấn: vụ Tiên Lãng có là sản phẩm của một "nhóm lợi ích"? Có cả đấy những nhân vật điển hình của "nhóm": những kẻ có quyền và những kẻ có tiền, hai thứ có thể khuynh đảo mọi thứ. Thêm vào đấy còn có nhân vật thứ ba, rất đặc trưng cho các "nhóm lợi ích" kiểu này: cộm cán, đầu gấu. Xin dẫn một tình huống: khi ông Vươn kiện UBND huyện Tiên Lãng lên tòa về quyết định thu hồi đất sai luật thì trước tòa, người đại diện của bên bị hứa sẽ tiếp tục cho thuê nếu bên nguyên rút đơn kiện. Kết quả: đơn được rút khỏi tòa và lệnh cưỡng chế ập đến. Mafia?

Khu đầm nhà ông Đoàn Văn Vươn. Ảnh Kiên Trung

Vâng, nhóm lợi ích chính là một thứ mafia, xã hội đen. Điều không may là cách hành xử của nó chưa bị chế tài bởi pháp luật, trừ khi phạm luật. Nhưng điều may là ở xã hội ta, thuở nào thứ này cũng bị nghiêm khắc lên án, bởi nó vô đạo đức. Nghị quyết của TW vừa khẳng định sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức, lối sống của một phần không nhỏ cán bộ, đảng viên và mạnh mẽ đưa ra những biện pháp khắc phục liệu có kịp làm chỗ dựa và vũ khí cho sự lương thiện ở địa phương? Mà câu chuyện này đâu chỉ có ở một Tiên Lãng, một Hải Phòng? Bốn phần năm các vụ khiếu kiện là về đất đai mà trong đó thấp thoáng không ít hình bóng Tiên Lãng!

*

*     *

Nói rằng có tới bốn phần năm các vụ khiếu kiện trên toàn quốc liên quan đến đất đai thì ta hãy thử giả định, nếu một ngày nào đó không còn tồn tại cái "bốn phần năm" ấy nữa thì điều gì xảy ra? Bao nhiêu năng lượng sẽ được giải phóng, bao nhiêu tiền của không phải đổ xuống sông xuống biển, xã hội sẽ yên bình biết bao và sau hết, Chính phủ sẽ yên tâm mà cai trị, chứ còn gì nữa?

Hỏi để nhắc lại điều mà nhiều nhà kinh điển từng đề cập: "Vấn đề nông dân là vấn đề ruộng đất". Để thêm một lần chia sẻ với những trăn trở máu thịt của người cày. Để nghĩ nữa, nghĩ thêm nữa đi… Sự thực là trong nền kinh tế – chính trị của nước ta hiện nay, mọi người đều có quyền có tài sản, không giới hạn, nhưng nông dân thì không.

Nêu ra như thế không để trình bày một nghịch lý vì người cày vẫn có "quyền sử dụng" đất – một khái niệm tiến rất sát đến "quyền sở hữu" mà Luật Đất đai 2003 mang lại. Tuy nhiên, "quyền sử dụng" ấy là có thời hạn (nghĩa là treo, kể cả định suất canh tác) và nhất là bị ràng buộc bởi cơ chế "xin – cho" mà kẻ cho lại là những con người cụ thể được Nhà nước (cũng là toàn dân) ủy quyền. Những gì xảy ra thì ta đã rõ. Những gì xảy ra thì ta đã rõ. Và đây mới chính là nghịch lý: người lẽ ra có quyền sở hữu thật cuối cùng lại bị chi phối (thậm chí đè nén, như trường hợp đang đề cập) bởi kẻ có quyền sở hữu ảo.

 

 

Cập nhật 10/02/2012 06:10:00 PM (GMT+7)

 

 

Toàn văn kết luận của Thủ tướng về vụ cưỡng chế

– Chiều 10/2, tại Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì họp về vụ việc cưỡng chế thu hồi đất trên địa bàn xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. 

 

Tham dự cuộc họp có lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thông tin và Truyền thông, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, Ban Dân nguyện của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Hội Nông dân Việt Nam, Bí thư Thành uỷ Hải Phòng và Chủ tịch UBND TP Hải phòng.

Sau khi nghe báo cáo tổng hợp chung của Văn phòng Chính phủ và các ý kiến phát biểu của các đại biểu dự họp,  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến kết luận như sau:

                                                      I.

Những năm qua, chính sách pháp luật về đất đai có rất nhiều thay đổi. Từ năm 1987 đến nay, Luật Đất đai đã được ban hành mới 3 lần (1987, 1993, 2003) và sửa đổi 2 lần (1998, 2001). Hàng trăm văn bản dưới luật cũng được ban hành, sửa đổi nhưng vẫn còn không ít vấn đề chưa đủ rõ, thậm chí trùng chéo, mâu thuẫn.

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu kết luận cuộc họp. Ảnh: Chinhphu.vn

Trình độ, năng lực cán bộ quản lý đất đai, nhất là ở cơ sở còn nhiều hạn chế trong khi đất đai đang biến động rất nhanh, văn bản pháp luật về đất đai lại rất nhiều và phức tạp, nên công tác quản lý đất đai trong cả nước còn nhiều bất cập. Nhiều vấn đề phát sinh trong quản lý và sử dụng đất đai chưa được điều chỉnh và xử lý kịp thời; khiếu kiện về đất đai chiếm trên 70% tổng số vụ khiếu kiện và có nhiều vụ việc kéo dài.

Trong những năm qua, cấp uỷ, Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã quan tâm lãnh đạo chỉ đạo thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai, không ngừng nâng cao hiệu qủa sử dụng đất nói chung và đất bồi ven biển nói riêng, góp phần phát triển KTXH khá nhanh và toàn diện, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Đối với ông Đoàn Văn Vươn chính quyền địa phương đã giao đất, kể cả giao bổ sung phần đất lấn chiếm sau khi đã xử phạt hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho ông Vươn đầu tư tôn tạo, nuôi trồng thủy sản trên diện tích đất được giao.

Tuy nhiên, UBND huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã có  những sai phạm trong giao đất, thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất đã giao cho ông Đoàn Văn Vươn như sau: 

1. Việc giao đất, thu hồi đất

– Quyết định số 447/QĐ-UB ngày 4 tháng 10 năm 1993 của Uỷ ban nhân dân huyện Tiên Lãng giao 21 ha đất cho ông Đoàn Văn Vươn là phù hợp với quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm ban hành.

Quyết định số 220/QĐ-UB ngày 9 tháng 4 năm 1997 của Uỷ ban nhân dân huyện Tiên Lãng giao bổ sung 19,3 ha đất cho ông Đoàn Văn Vươn vào mục đích  nuôi trồng thuỷ sản với thời hạn 14 năm, tính từ ngày 4 tháng 10 năm 1993 là đúng thẩm quyền và phù hợp với thực tế sử dụng đất. Tuy nhiên quyết định này không đúng với quy định của pháp luật đất đai về giao đất, cho thuê đất; về thời hạn giao đất và thời điểm tính thời hạn giao đất.

– Các Quyết định số 460/QĐ-UBND ngày 23/4/2008, Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 07/4/2009 của Uỷ ban nhân dân huyện Tiên Lãng thu hồi đất của ông Đoàn Văn Vươn với lý do hết thời hạn sử dụng là không đúng với quy định của Luật Đất đai 2003 và Nghị Định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003.          2. Việc cưỡng chế thu hồi đất

Do quyết định thu hồi đất không đúng với quy định của pháp luật đất đai nên Quyết định cưỡng chế thu hồi đất cũng không đúng pháp luật. Mặt khác, việc tổ chức cưỡng chế thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng cũng có nhiều thiếu sót, sai phạm. 

3. Việc phá dỡ nhà của ông Đoàn Văn Vươn

Việc Lãnh đạo chính quyền địa phương chỉ đạo phá nhà của ông Đoàn Văn Vươn là có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự cần phải được khởi tố, điều tra làm rõ và xử lý nghiêm minh. 

                                                         II.

Thủ tướng hoan nghênh việc lãnh đạo thành phố Hải Phòng nghiêm túc kiểm điểm, nhận khuyết điểm, trách nhiệm và đã lãnh đạo, chỉ đạo cần thiết đối với vụ việc này. Thủ tướng yêu cầu lãnh đạo thành phố Hải Phòng tiếp tục thực hiện tốt các công việc sau:

1. Chỉ đạo thu hồi các quyết định không đúng pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng về việc thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất đã giao cho ông Đoàn Văn Vươn. Xử lý các vi phạm về sử dụng đất của ông Đoàn Văn Vươn theo quy định của pháp luật và làm thủ tục cho ông Đoàn Văn Vươn sử dụng đất theo đúng quy định của Luật Đất đai. Chỉ đạo Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng và Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng nghiêm túc kiểm điểm việc xét xử đối với vụ việc này. 2. Chỉ đạo cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố, điều tra và sớm đưa ra xét xử nghiêm minh theo đúng qui định của pháp luật việc phá dỡ nhà của ông Đoàn Văn Vươn. Đình chỉ công tác những cán bộ đã chỉ đạo phá dỡ nhà của ông Đoàn Văn Vươn.

 

Cuộc họp có sự tham gia của lãnh đạo thành phố Hải Phòng và một số bộ, ban ngành. Ảnh: Chinhphu.vn

3. Chỉ đạo cơ quan bảo vệ pháp luật khẩn trương đưa vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ” ra xét xử công khai, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Kiến nghị các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo do các quyết định không đúng pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng.   

4. Chỉ đạo huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân liên quan đến những vi phạm trong việc giao đất, thu hồi đất, tổ chức cưỡng chế, phá dỡ nhà của ông Đoàn Văn Vươn.

5. Lãnh đạo thành phố Hải phòng kiểm điểm làm rõ trách nhiệm về việc:    

– Chấp thuận đề nghị cưỡng chế thu hồi đất không đúng pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng.  

– Khi vụ việc xảy ra chậm chỉ đạo làm rõ đúng sai và trách nhiệm của tập thể, cá nhân; báo cáo chưa đầy đủ – nghiêm túc với Thủ tướng Chính phủ; việc thực hiện cung cấp thông tin chưa kịp thời, thiếu chặt chẽ gây bức xúc trong dư luận.

6. Lãnh đạo thành phố Hải Phòng kiểm điểm rút kinh nghiệm sâu sắc qua vụ việc này và chỉ đạo rà soát, chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về đất đai, kiện toàn bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý nhà nước về đất đai, không để xảy ra vụ việc tương tự. Sớm ổn định tình hình mọi mặt của huyện Tiên Lãng. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về xây dựng Đảng, phát huy thành tựu to lớn và truyền thống tốt đẹp của thành phố Hải Phòng, tập trung lãnh đạo chỉ đạo thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2011-2015 mà Đại Hội Đảng bộ Thành phố đã đề ra.

Những công việc trên phải được thực hiện khẩn trương, nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.

                                                                III.

Qua vụ việc cưỡng chế thu hồi đất ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, Thủ tướng yêu cầu:

1. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước chủ động rà soát, chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về đất đai, nhất là việc thu hồi và cưỡng chế thu hồi đất bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Đề cao trách nhiệm, tập trung giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo của công dân về đất đai2. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các bộ ngành liên quan tiến hành rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định về quản lý, sử dụng đất đai. Khẩn trương tiến hành tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai để kiến nghị sửa đổi Luật đất đai cho phù hợp với thực tế tình hình và yêu cầu phát triển mới.

3. Bộ Tư pháp nghiên cứu, đề xuất xây dựng thể chế để kiểm soát việc ban hành các quyết định hành chính của chính quyền các cấp.

4. Thủ tướng Chính phủ kiến nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao theo thẩm quyền xem xét theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng và Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng.

5. Thủ tướng hoan nghênh các cơ quan thông tin đại chúng đã góp phần tích cực để các cơ quan chức năng làm sáng tỏ và có sự chỉ đạo phù hợp đối với vụ việc này.

Yêu cầu các cơ quan thông tấn báo chí tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm của mình, đóng góp thiết thực hơn nữa vào việc xây dựng Đảng và bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh, phát huy quyền làm chủ và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân. Nghiêm túc rút kinh nghiệm, hết sức tránh việc đưa tin không khách quan, không đúng bản chất sự việc làm phương hại đến lợi ích của đất nước và người dân.

Yêu cầu Bộ Thông tin – Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và các cơ quan chủ quản, tăng cường chỉ đạo, quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí hoạt động đúng chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia tuyên truyền định hướng dư luận xã hội; kịp thời chấn chỉnh, xử lý những vi phạm để báo chí nước ta ngày càng vững mạnh, đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thủ tướng hoan nghênh những ý kiến đóng góp tâm huyết, xác đáng đối với vụ việc này của các đồng chí lão thành, các chuyên gia và nhiều cán bộ, nhân dân đã gửi trực tiếp đến Thủ tướng hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và mong tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp xây dựng đối với việc quản lý, điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp.

VietNamNet

 

Chính quyền sai toàn diện trong vụ Tiên Lãng

VNexpess – Ngày 10/2, sau cuộc họp với các bộ ngành, Thủ tướng kết luận, các quyết định thu hồi, cưỡng chế 19,3 ha đầm tôm của gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang (Tiên Lãng, Hải Phòng) đều trái luật và yêu cầu sớm khởi tố, điều tra cán bộ đã chỉ đạo phá nhà ông Vươn.
>Hàng loạt lãnh đạo huyện Tiên Lãng bị kỷ luật
/ Toàn cảnh vụ Tiên Lãng trước cuộc họp của Thủ tướng

"Hai tuần nay, tôi thường xuyên đọc báo và thấy có khoảng 800 tin, bài về vụ Tiên Lãng. Thủ tướng cảm ơn báo chí đã đưa thông tin nhanh, đa chiều", Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam mở đầu buổi thông báo kết quả cuộc họp của Thủ tướng với các bộ ngành và TP Hải Phòng chiều 10/2.

* Clip: Bộ trưởng Vũ Đức Đam thông báo về vụ Tiên Lãng

Theo ông Đam, báo cáo của Hải Phòng hôm nay đã trả lời tập trung vào 3 vấn đề Thủ tướng đã đặt ra. Sau khi nghe ý kiến các bộ ngành, người đứng đầu Chính phủ kết luận, đây là vụ việc đáng tiếc, có vấn đề yếu kém của chính quyền huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang trong quản lý đất đai.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kết luận vụ Tiên Lãng. Ảnh: Chinhphu.vn

Về quyết định giao đất cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn, theo Thủ tướng, quyết định thứ nhất giao 21 ha đất là đúng, nhưng quyết định thứ hai giao thêm 19,3 ha (thời hạn 14 năm) là chưa đúng với quy định Luật đất đai.

Quyết định thu hồi đất của ông Vươn với lý do hết thời hạn sử dụng cũng trái luật. Luật đất đai quy định 5 trường hợp thu hồi đất, nhưng gia đình ông Vươn không nằm trong 5 trường hợp trên

Do quyết định thu hồi đất không đúng với quy định của pháp luật đất đai nên quyết định cưỡng chế thu hồi đất cũng không đúng pháp luật. Mặt khác, việc tổ chức cưỡng chế thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng cũng có nhiều sai phạm như không xác định ranh giới, kiểm kê tài sản…

"Thủ tướng kết luận, huyện Tiên Lãng huy động lực lượng quân đội của Ban chỉ huy quân sự huyện tham gia cưỡng chế là không đúng", ông Đam nói.

Công tác tổ chức thực hiện cưỡng chế cũng có nhiều sai sót, gây thương vong cho lực lượng tham gia. Thủ tướng kết luận, việc phá nhà có sự chỉ đạo của một số lãnh đạo địa phương và yêu cầu khởi tố điều tra, xét xử nghiêm minh. "Khi xử lý các cán bộ đương nhiên sẽ có phần trách nhiệm bồi thường", ông Đam nói

Trong thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu Hải Phòng chỉ đạo thu hồi các quyết định không đúng pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng về việc thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất đã giao cho ông Đoàn Văn Vươn; làm thủ tục cho ông Đoàn Văn Vươn sử dụng đất theo đúng quy định của Luật Đất đai; chỉ đạo TAND Hải Phòng và Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng nghiêm túc kiểm điểm việc xét xử đối với vụ việc này.

Bộ trưởng Vũ Đức Đam. Ảnh: Bá Đô.
Bộ trưởng Vũ Đức Đam. Ảnh: Bá Đô.

Hải Phòng phải chỉ đạo cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố, điều tra và sớm đưa ra xét xử nghiêm minh việc phá dỡ nhà của ông Đoàn Văn Vươn; đình chỉ công tác những cán bộ đã chỉ đạo phá nhà; khẩn trương đưa vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ” ra xét xử công khai, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật; kiến nghị các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo do các quyết định không đúng pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng.

"Việc khiếu nại của ông Vươn diễn ra mấy năm, nếu thành phố chỉ đạo xử lý tốt, đúng pháp luật thì không xảy ra sự việc. Tại cuộc họp, Bí thư và Chủ tịch UBND Hải Phòng đã nhận trách nhiệm, còn việc kỷ luật cán bộ phải được thực hiện theo đúng quy định của Đảng, nhà nước", ông Đam nói.

Ở cấp thành phố, phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm vì Tiên Lãng đã báo cáo chủ trương thu hồi đất và được thành phố chấp thuận. Thành phố cũng phải kiểm điểm vì xử lý chậm, báo cáo Thủ tướng chưa đầy đủ. Thủ tướng yêu cầu Hải Phòng sớm báo cáo kết quả thực hiện từng việc.

Rút kinh nghiệm từ vụ Tiên Lãng, người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các tỉnh thành phải thu hồi đất cũng như tổ chức cưỡng chế đúng pháp luật. Bộ Tư pháp phải nghiên cứu ban hành các quy định để kiểm soát các văn bản hành chính. Tòa án tối cao xem xét tái thẩm với các quyết định của Tòa án Hải Phòng và huyện Tiên Lãng.

Lãnh đạo Hải Phòng và các bộ, ngành tham gia buổi họp chiều 10/2. Ảnh:Chinhphu.vn
* Toàn văn kết luận của Thủ tướng về vụ Tiên Lãng

Ngày 5/1/2012, khi hơn 100 cảnh sát, bộ đội cưỡng chế, thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn, một số người đã gài mìn tự chế trong vườn, cầm súng hoa cải chống lại. Bốn cảnh sát và hai cán bộ huyện đội bị thương, trong số này có người đứng đầu công an huyện Tiên Lãng. Một ngày sau, ngôi nhà của ông Vươn bị phá hủy.

Ngày 10/1, 4 bị can gồm: Đoàn Văn Quý (46 tuổi), Đoàn Văn Vươn (49 tuổi), Đoàn Văn Sịnh (55 tuổi) và Đoàn Văn Vệ (38 tuổi) bị khởi tố, bắt tạm giam về tội giết người. Phạm Thị Báu (tức Hiền, vợ ông Quý) và Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) bị khởi tố về tội chống người thi hành công vụ, song được tại ngoại.

Tuy nhiên, từ vụ nổ súng chống đối, hàng loạt vấn đề được phơi bày. Nhiều chuyên gia lên tiếng quyết định giao và thu hồi đất của huyện Tiên Lãng là trái luật, việc sử dụng quân đội tham gia cưỡng chế và phá nhà ông Vươn là vi phạm pháp luật. Mặt trận tổ quốc, các bộ ngành lập tức vào cuộc. Thủ tướng yêu cầu Hải Phòng báo cáo, làm rõ đúng sai.

Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng và nhiều cán bộ đã bị đình chỉ chức vụ. Công an Hải Phòng đã khởi tố vụ án hủy hoại tài sản và triệu tập những người liên quan, trong đó Bí thư, Chủ tịch xã Vinh Quang.

Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã nghiêm túc kiểm điểm, nhận trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban bí thư, trước Đảng bộ và nhân dân thành phố.

Nhóm phóng viên

 

 
 
 
Thứ Bảy,  18/2/2012, 17:42 (GMT+7)
 

 
Ý KIẾN
 

Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào vấn đề đất đai

GS. Võ Tòng Xuân
Thứ Năm,  9/2/2012, 09:34 (GMT+7)
Phóng to 

Thu nhỏ 

Add to Favorites 

In bài 

Gửi cho bạn bè

Không ít trường hợp đất nông nghiệp bị thu hồi để quy hoạch, xây dựng thành sân golf. Ảnh: Tuệ Doanh.

(TBKTSG) – Càng để vấn đề đất đai dây dưa như hiện nay, cả nước phải tiếp tục tiêu tốn một khối lượng thời gian và chi phí rất lớn để giải quyết những tranh chấp kéo dài triền miên, mà đáng lẽ ta có thể dành thời gian và tiền của ấy vào việc phát triển sự nghiệp cho mỗi gia đình và đất nước.

Trong những khiếu kiện về đất đai, chiếm 70-80% tổng số các khiếu kiện, cuối cùng rồi phần thiệt thòi vẫn thuộc về người dân, vì Luật Đất đai hiện tại đã được thiết kế với nhiều lỗ hổng khiến các viên chức nhà nước có cơ hội lạm dụng và tham nhũng. Lý do mấu chốt nhất là khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, mà mỗi người dân thoạt nghe đều rất khoái, nhưng suy ra thì không có mình trong cái “toàn dân” ấy.

Tôi còn nhớ thuở làm đại biểu Quốc hội, sau khi thành công trong việc tạo sự kiện thực tế để trung ương có căn cứ ban hành chính sách “Khoán 100” một thời gian thì tiếp đến phải tham gia ý kiến xây dựng Luật Đất đai đầu tiên năm 1987. Mục tiêu chủ yếu lúc đó là để chận đứng sự lạm quyền của các viên chức xã, huyện tự ý lấy đất khoán của nông dân đã đầu tư sửa sang thật tốt để giao lại cho người khác, buộc nông dân này nhận miếng đất khoán khác chưa được sửa sang gì. Sau hai ba lần bị thay đổi đất khoán, nông dân không ai còn muốn đầu tư vào mảnh đất khoán một vụ của mình cả. Sản lượng lúa cả nước không còn tăng nữa. Kết quả là Luật Đất đai 1987 ra đời với “Khoán 10” đã khiến sản lượng lúa năm 1989 tăng cao chưa từng thấy, và Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo từ quí 4-1989.

Bản thân tôi thấy Luật Đất đai 1987 chỉ là giải pháp tình thế chứ không phải là một giải pháp hợp đạo lý xã hội Việt Nam. Quả đúng như thế. Vì Luật Đất đai 1987 chưa phù hợp đạo lý xã hội Việt Nam nên phải được sửa lại lần 1 vào năm 1993, sửa đổi lần 2 năm 1998, sửa đổi lần 3 năm 2001, lần 4 năm 2003, lần 5 năm 2009, và năm 2012 Nhà nước đang chuẩn bị đưa ra Quốc hội sửa đổi lần 6. Lại những tốn kém sức người và kinh phí một cách lãng phí nếu lần sửa đổi này cũng lại đưa ra những điều khoản bằng những câu văn hoa mỹ nhưng vẫn chưa đi vào thực tế phù hợp xã hội Việt Nam, để tiếp tục tạo cơ hội cho lạm dụng và tham nhũng. Đã đến lúc xây dựng bộ luật mới về đất đai – sở hữu cơ bản nhất của mỗi con người sống trên quả đất này.

Nguyên nhân chính gây nên những bất ổn về đất đai

Những cuộc kiện cáo, khiếu nại, xô xát lẫn nhau vì đất đai từ khi hòa bình lặp lại đến giờ, phần lớn đều do khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Khi Quốc hội thảo luận dự án Luật Đất đai năm 1987, tôi đã nêu lên chính sách ruộng đất của nước ta từ thời Lê sơ, bắt đầu từ vua Lê Thái Tổ và kế đến là Lê Thánh Tông, được ghi trong Bộ luật Hồng Đức từ năm 1483 lưu truyền đến thế kỷ 18.

Từ cuối thế kỷ 15, Bộ luật Hồng Đức đã công nhận ba loại chủ sở hữu đất đai, đó là chính nhà vua, quan chức cai quản làng xã, và người tư nhân cá thể, hoàn toàn không có khái niệm “sở hữu toàn dân”.

Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn kế thừa đạo lý xã hội Việt Nam, đã thừa nhận “bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân” (điều 14) và chỉ coi “đất hoang” mới thuộc sở hữu toàn dân (điều 12). Khi Quốc hội thảo luận xây dựng Hiến pháp 1980 và sau này Hiến pháp 1992 kế thừa thì đất đai (toàn bộ đất đai nói chung) được tuyên bố là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, các ý kiến trái lại xem xét theo Hiến pháp 1959 đều không được chấp nhận. Theo LS. Trần Hữu Huỳnh (xem TBKTSG số ra ngày 2-2-2012), Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), xuất hiện lần đầu tiên trong Hiến pháp 1980 khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai thực ra không phải được hình thành dựa trên một nền tảng lý luận khoa học nào cả mà chỉ là từ ý kiến của một vài vị lãnh đạo sau thời kỳ miền Nam vừa giải phóng.

Khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” trong Luật Đất đai 1987-2009 đã tạo kẽ hở cho tham nhũng, lạm dụng chiếm hữu đất đai của dân. Hàng trăm nông trường, lâm trường đã được thiết lập trên đất công nhưng cũng không ít nông trường xây dựng trên đất của dân, gây nên tranh chấp cho đến ngày nay. Nhiều nông trường và lâm trường làm ăn thua lỗ, gây tổn phí cho ngân sách quốc gia, đã bị bỏ hoang. Nhiều doanh nghiệp tư nhân thấy thế, bèn đến xin khai thác, bỏ vốn đầu tư lập thành trang trại sản xuất cây trồng vật nuôi, biến đất bỏ hoang cỏ ngập đến đầu thành nông trang hiện đại.

Đến lúc đó chủ trang trại bị hăm là đất trang trại của họ sắp bị tịch thu vì Luật Đất đai không cho cá nhân tích tụ ruộng đất quá 3 héc ta trong khi phần lớn trang trại tư nhân ít nhất 10-100 héc ta, thậm chí có trang trại cao su lên đến 650 héc ta. Ngày 25-7-1999, chúng tôi cùng một số cơ quan báo chí khu vực phía Nam đã hội thảo bàn về vai trò của trang trại trong phát triển nông nghiệp Việt Nam vừa sản xuất hàng hóa cho xã hội, vừa tham gia công cuộc xóa đói giảm nghèo bằng cách đầu tư, sử dụng và quản lý đất đai hữu hiệu. Sau đó Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, rồi Bộ trưởng Lê Huy Ngọ vào Nam, đi xác định vị trí kinh tế của hình thức trang trại, đã chấp nhận cho ra đời một chính sách mới ngoại lệ với Luật Đất đai là các cá nhân có quyền mướn thêm đất ngoài phần đất định mức đã được giao để đầu tư xây dựng trang trại, đất của trang trại được Nhà nước bảo hộ không bị tịch thu hoặc quốc hữu hóa. Nhờ thế phong trào trang trại như nở hoa.

Từ ngữ không phản ánh đúng bản chất

Nhưng những người “chủ trang trại” cũng như những người “chủ ruộng vườn” vẫn chưa hết lòng đầu tư cho phần đất được Nhà nước giao vì họ vẫn thấp thỏm sợ một ngày không ngờ sẽ bị tước đi mọi đầu tư của mình trên khu đất này. Họ sợ khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”.

Người dân nào cũng muốn trở về mảnh đất mà tổ tiên mình đã có công khai thác và truyền lại trong tộc họ mình. Ở miền Nam, ở một số địa phương nơi những người Nam tiến bước chân đến khai hoang lập nghiệp như ở vùng Sài Gòn, và các tỉnh xung quanh Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Long An, Tiền Giang… người chủ đất đã trối trăn cho con cháu phải chôn mình ngay trên đất hương hỏa để giữ đất tổ tiên, chứ đừng chôn nơi nghĩa địa. Sự gắn bó với đất đai của tổ tiên mãnh liệt như thế, cho nên khi Nhà nước tước đi quyền sở hữu đất đai của nông dân, thì trong xã hội, nhất là ở miền Nam, đã ngấm ngầm một sự bất bình.

Những người “chủ trang trại” cũng như những người “chủ ruộng vườn” vẫn chưa hết lòng đầu tư cho phần đất được Nhà nước giao vì họ vẫn thấp thỏm sợ một ngày không ngờ sẽ bị tước đi mọi đầu tư của mình trên khu đất này. Họ sợ khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”.

Người dân phải giao dịch với nhau bằng những cụm từ không phản ánh đúng bản chất giao dịch, thí dụ thay vì coi sổ đỏ “Quyền sử dụng đất” thì dùng nó như “Bằng khoán đất” đem đi thế chấp khi mượn tiền của một cá nhân hay của ngân hàng; mua bán đất thì cũng đem sổ đỏ “Quyền sử dụng đất” giao cho người mua, gọi là chuyển quyền sử dụng đất. Kiểu giao dịch qua sổ đỏ như thế này gây nhiều trở ngại đối với đầu tư nước ngoài, tuy dần dần người nước ngoài cũng quen kiểu này.

Trong phát triển nông nghiệp, luật Việt Nam vì muốn thu hút đầu tư nước ngoài nên đã bất chấp công bằng xã hội, luôn ưu tiên cho người nước ngoài, coi thường người trong nước, nhất là trên phương diện diện tích và thời gian đầu tư. Người nước ngoài không bị khống chế diện tích trong khi người Việt Nam phải theo luật không được tích tụ trên 3 héc ta/người. Thời gian thuê đất của người nước ngoài có thể đến 50 năm, người Việt Nam thì không được dài lâu như thế.

Tuy nhiên, trong thực tế vì nhu cầu phát triển, những người nông dân có tay nghề quản lý kinh doanh giỏi đều không chịu bó tay với luật. Từ tiền lãi thu về sau mỗi vụ lúa, họ mua đất thêm bằng cách dàn xếp với mỗi chủ sổ đỏ đứng tên giùm mình. Và phần lớn những người chủ sổ đỏ của mảnh đất 1-2 héc ta sau khi bán đất mình cho chủ mới, được thu dụng làm công cho chủ mới một cách khỏe re, không bận tâm lo tiền cày cấy, mua giống, mua thuốc, mua phân, bơm nước. Mọi thứ “nát óc” cho 1-2 héc ta trước đây đều có ông chủ mới lo một cách chu toàn cho cả đồn điền lớn của họ.

Tính ra những người chủ đất nhỏ khi làm công cho chủ đồn điền lớn đều được hưởng lợi đầy đủ hơn khi tự mình lo sản xuất như trước kia. Hiện nay trên ĐBSCL đã có hàng trăm đại gia đồn điền lúa điển hình thành công lớn như anh Sáu Đức (Nguyễn Lợi Đức) ở Lương An Trà, Tri Tôn, An Giang; anh Hùng và chị Hạnh (Lê Thị Hạnh) ở Thoại Sơn, An Giang; anh Ba Tráng (Trần Văn Tráng) ở Hưng Điền, Tân Hưng, Long An; anh Út Huy (Võ Quang Huy) ở Đức Huệ, Long An. Anh Ba Hạo (Đỗ Hữu Hạo) ở Hòn Đất, Kiên Giang, có 55 héc ta chuyên trồng khoai lang xuất khẩu sang Nhật Bản. Các đại gia sản xuất lúa có trong tay vài trăm héc ta đất nhưng không muốn công bố rộng rãi, vì họ không biết số phận ra sao khi năm 2013 sắp đến Nhà nước sẽ thu hồi đất lại chăng? Hàng trăm chủ trang trại lúa khác có diện tích bình quân từ 30-40 héc ta. Chắc chắn nếu Luật Đất đai sửa đổi tới đây không đá động gì đến hạn điền và sở hữu tư nhân về đất đai, Nhà nước đến hạn thu hồi lại đất vào năm 2013 sẽ có một sự khủng hoảng lớn sẽ xảy ra, sản xuất lúa chắc chắn sẽ bị chựng lại!

Mâu thuẫn chính sách: hạn điền và cơ cấu kinh tế

Đảng và Nhà nước nhận thức được rằng sự phát triển của các quốc gia tiên tiến đều tiến theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế giảm dần tỷ lệ khu vực nông nghiệp để chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Do đó chiến lược của Việt Nam cũng phải như thế. Ngày nay ở các nước tiên tiến khu vực nông nghiệp chỉ còn khoảng 10% lao động, thậm chí ở Hà Lan chỉ còn 2,5% lao động. Khi khu vực công nghiệp và dịch vụ phát triển lên, họ sẽ thu hút lao động vào các khu vực ấy. Dĩ nhiên Luật Đất đai của họ cũng phải theo hướng ấy, tức là không còn hạn điền nữa. Trong khi đó, Luật Đất đai của ta bắt buộc người lao động Việt Nam phải dàn đều mỗi người 3 héc ta đất khắp nước thì làm sao thu nhỏ lại được tỷ lệ 75% lao động nông nghiệp hiện nay?

Hai vấn đề mấu chốt của Luật Đất đai cần sửa đổi ngay: bỏ “hạn điền 3 héc ta” và công nhận “sở hữu tư nhân” về đất đai. Cái được lớn nhất là các viên chức địa phương và trung ương sẽ ít có cơ hội tham nhũng, lạm dụng chức quyền đối với vấn đề đất đai của nhân dân. Nhà nước vẫn có thể sòng phẳng với nhân dân khi cần trưng dụng đất đai cho các mục tiêu quốc phòng, làm đường sá, xây công trình công cộng, xây dựng đô thị, xây khu công nghiệp… Khi phải trưng dụng đất của dân đang canh tác, Nhà nước sẽ sử dụng phần đất công của mình (thí dụ đất rừng đang khai thác) để tạo lập một vùng canh tác mới có đủ cấu trúc hạ tầng để đổi lại cho nông dân như kiểu thành lập những đồn điền dầu cọ FELDA của Malaysia.

Nhưng bù lại chúng ta sẽ được nhiều cái lợi. Thứ nhất là yên lòng nhân dân, làm dân tin tưởng vào sự sáng suốt của Đảng, Nhà nước và Quốc hội; phát triển sản xuất sẽ tăng gấp nhiều lần vì có sự đầu tư thật sự vào đất của mỗi hộ gia đình, và tiến tới thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế đất nước. Thứ hai là, Nhà nước từ trung ương xuống đến địa phương sẽ không còn phải tốn công sức để xử các khiếu kiện về đất đai, dành thời giờ để lo sản xuất, phát triển kinh tế đất nước.

Ba loại sở hữu ruộng đất từ thời nhà Lê

Sách sử nhà Lê sơ ghi lại rằng, sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, vua Lê Thái Tổ một mặt cho 25 vạn quân về làm ruộng, lấy lại ruộng đất cũ của mình và khôi phục sản xuất, mặt khác kêu gọi nhân dân phiêu tán trở về quê cũ, cùng nhau xây dựng lại xóm làng, đồn điền, nghề nghiệp. Để đảm bảo an toàn cho sản xuất, Thái Tổ hạ lệnh cho các làng làm sổ ruộng đất và trên cơ sở đó, nhà nước chủ động phân phối. Ruộng đất được phân phối làm ba bộ phận chính:

1. Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước: Tất cả những ruộng đất tịch thu được của chính quyền đô hộ và quan lại cũ, ruộng đất không chủ đều thuộc sở hữu nhà nước. Với số lượng rất lớn, nhà nước sử dụng nó dưới các hình thức sau:

Loại do nhà nước trực tiếp quản lý, được gọi là ruộng quốc khố hay ruộng công. Loại này được cấp cho các quan địa phương hay trung ương, phát canh cho nông dân hoặc giao cho những người bị tội đồ cày cấy.

Loại cấp cho các công thần hay quan lại. Ngay sau khi lập xong các sổ ruộng đất làng xã, vua Lê thực hiện việc phong thưởng cho các công thần của sự nghiệp giải phóng đất nước. 221 người được phong tước hầu, tước trí tự và cấp ruộng từ 300-500 mẫu. Các triều vua tiếp sau, đôi lúc cũng phong thưởng ruộng đất cho các đại thần có công. Đây là loại ruộng công thần. Thời Lê Thánh Tông, chế độ lộc điền được ban hành, theo đó các quan lại từ tam, tứ phẩm trở lên cho đến các vương, hầu, bá được cấp một số ruộng tùy chức tước. Ruộng lộc chia làm hai loại: loại cấp vĩnh viễn gọi là ruộng thế nghiệp chủ yếu dành cho các vương hầu, công chúa, loại cấp một đời gọi là ruộng ân tứ (15-130 mẫu cho quan từ 1-4 phẩm). Ruộng lộc chỉ cấp cho quan chức từ 4 phẩm trở lên. Các chức thấp hơn chỉ được hưởng phần ruộng công ở làng theo chế độ quân điền. Sau khi viên quan được cấp chết ba năm thì nhà nước thu lại.

Loại đồn điền: do nhà nước tổ chức khai hoang thành lập. Nông dân cày đồn điền chủ yếu là người bị tù tội, nông dân lưu tán nghèo đói được mộ. Loại này phát triển từ sau năm 1481, khi Thánh Tông quyết định thành lập 43 sở đồn điền ở địa phương.

2. Ruộng đất công làng xã: Loại ruộng đất này có nguồn gốc từ xa xưa, được duy trì cho đến thế kỷ 15 ở các làng xã nhưng với tỷ lệ khác nhau. Từ thời Thái Tổ, nhà nước đã đặt vấn đề phân chia ruộng đất công làng xã cho dân làng ít hoặc không ruộng đất, quân lính.

3. Ruộng đất tư hữu: phát triển từ những thế kỷ trước, đến thế kỷ 15, có điều kiện ngày càng mở rộng. Đất tư hữu thực chất là đất của các tiền nhân đã tiên phong đến những nơi rừng sâu nước độc hoặc đầm lầy khai hoang lập ấp, hoặc đất công điền của vua ban cho các vị công thần rồi các vị công thần này phân phối lại cho bà con dòng họ, người thân trong làng, hoặc ruộng của địa chủ và một số ít điền trang. Sự gia tăng của hàng ngũ quan lại góp phần làm cho bộ phận ruộng tư hữu của địa chủ ngày càng phát triển, trong lúc đó các điền trang ngày càng thu hẹp lại.

 

 

Tuổi Trẻ Cuối tuần -10/2/2012

Thời hạn và hạn điền – những thúc giục từ thực tế

TTCT – Câu chuyện một nông dân có 500ha ruộng mà 70-80% số đó phải nhờ người khác đứng tên, hay thời hạn năm 2013, tức 20 năm từ khi thực hiện giao đất nông nghiệp theo nghị định 64/1993, Nhà nước có thu hồi ruộng đất để chia lại hay không… đang cho thấy những thực tiễn nóng bỏng trong lĩnh vực nông nghiệp, thúc giục một sự quyết đáp rõ ràng.

 

Hạn điền khiến nông dân phấp phỏng với “thân phận” đất đai, khó mà yên tâm đầu tư sản xuất lớn – Ảnh: Đức Vịnh

 

Đất đai luôn luôn là vấn đề lớn đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nhất là ở các nước đang phát triển với kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, dân sống bằng nghề nông còn nhiều. Ngày nay, các nước phát triển cao cũng đặt mối quan tâm lớn vào khu vực nông nghiệp và nông thôn với ý nghĩa bảo đảm an ninh lương thực và giải quyết vấn đề môi trường.

Nhìn xa hơn, khi tài nguyên hóa thạch cạn kiệt, loài người sẽ phải tìm kiếm nhiên liệu, nguyên liệu từ nông sản để tiếp tục phát triển.

Hai vấn đề cốt lõi

Từ ngày đầu đổi mới, chính sách Nhà nước giao đất của hợp tác xã cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài đã mang lại động lực cho phát triển nông nghiệp, đưa nước ta từ tình trạng thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đến nay động lực đó đã cạn dần vì không thể tăng năng suất và sản lượng cao hơn.

Để phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, chúng ta cần đầu tư hạ tầng hiện đại, quy hoạch lại đồng ruộng, tăng cường dịch vụ cho nông nghiệp và nông thôn như điện, thủy lợi, giao thông, công nghệ…, làm sao để giúp nông dân tự vươn trực tiếp ra thị trường nông sản trong nước và quốc tế. Nhưng, từ đây có hai vấn đề cốt lõi cần có những quyết đáp rõ ràng: đó là câu chuyện thời hạn (giao đất) và hạn điền. Giải quyết xong hai vấn đề này sẽ tạo được động lực mới cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

Một mặt không để hình thành tầng lớp “địa chủ” mới, mặt khác lại không thể để ruộng đất manh mún và thiếu đầu tư dài hạn. Hai tư duy này cọ xát nhau rất mạnh trong quá trình phát triển nông nghiệp nước ta. Nếu không được tập trung ruộng đất quy mô lớn với thời gian sử dụng ổn định lâu dài thì người có khả năng làm nông nghiệp không dám đầu tư lớn và dài hạn để tăng năng suất và sản lượng.

Thời hạn được quy định từ Luật đất đai 1993 với tinh thần “hết thời hạn vẫn được tiếp tục sử dụng đất nếu sử dụng đất có hiệu quả”. Vấn đề phức tạp thực tế được đặt ra: ai là người xác nhận hiệu quả sử dụng đất để được tiếp tục sử dụng? Chắc chắn phải là chính quyền địa phương.

Như vậy, cơ chế này bắt người nông dân phải “cầu cạnh” chính quyền để giữ được đất. Và một cơ chế như vậy ẩn chứa nguy cơ tham nhũng rất cao. Khi chuẩn bị Luật đất đai 2003, câu chuyện được đặt ra là chúng ta có nên bỏ thời hạn sử dụng đất nông nghiệp hay không, nếu không bỏ thì có kéo dài thời hạn hay không? Cứ cho là thời hạn được kéo dài hơn thì cũng vẫn vướng vào câu hỏi là hết thời hạn sẽ làm gì?

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7, khóa IX đã đưa ra xem xét vấn đề này khi thông qua nghị quyết số 26-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có hai luồng ý kiến khá ngang nhau xuất hiện: một là hết thời hạn thì chia lại ruộng đất cho công bằng theo lực lượng lao động hiện tại; hai là cho đương nhiên kéo dài thời hạn, thậm chí xóa bỏ thời hạn.

Vì số lượng ý kiến ngang nhau nên vấn đề thời hạn bị xếp lại để tiếp tục giải quyết trước ngày 15-10-2013, ngày kết thúc thời hạn 20 năm đối với đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

Những thực tế đòi hỏi

Một điều thấy rõ là nếu không xóa bỏ thời hạn thì chắc chắn nông dân sẽ khó lòng yên tâm đầu tư dài hạn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, nhất là với mô hình sản xuất lớn có giá trị gia tăng cao đang được cổ xúy rất mạnh mẽ hiện nay. Khi sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chỉ với thời hạn 20 năm, sau này lại không biết “thân phận” đất đai của họ đang sử dụng sẽ như thế nào, chắc chắn không người nông dân nào dám đầu tư lớn, dài hơi.

Xóa thời hạn được coi là phương án tốt nhất để người chuyên làm nông nghiệp yên tâm dồn tâm trí, tiền bạc, sức lực để tạo nên khu vực nông nghiệp có năng suất và sản lượng rất cao. Đây chính là động lực mới từ chính sách đất đai để phát triển kinh tế nông nghiệp. Đầu tư cho nông nghiệp có khi phải kéo dài cả hàng chục năm mới thay đổi được phương thức canh tác làm tăng đáng kể lợi nhuận.

Việc giải phóng thời hạn sử dụng đất đồng nghĩa với việc giải phóng tâm lý lo lắng, phấp phỏng của nông dân, để họ yên tâm đưa ra một kế hoạch đầu tư dài hạn. Tất nhiên, để tránh trường hợp có đất nhưng không sử dụng, cần đặt ra nhiều chính sách khác như điều tiết bằng thuế, thu hồi đất, đừng dùng cách hạn chế bằng thời hạn sử dụng đất.

Đối với hạn điền cũng có hai cách nhìn nhận khác nhau: thứ nhất cho rằng cần loại bỏ hạn điền nhằm khuyến khích kinh tế trang trại quy mô lớn; cách thứ hai ngược lại, muốn tiếp tục quy định hạn điền để tránh xu hướng hình thành tầng lớp “địa chủ” mới và “tá điền” mới ở nông thôn. Nhưng từ lịch sử mà thấy, thì hạn điền là một chính sách đất đai rất cơ bản của thời kỳ phong kiến để nhà vua không cho tầng lớp địa chủ cơ hội lấy quá nhiều đất của vua. Cách thức đó rõ ràng không phù hợp với tư duy công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa.

Hệ thống pháp luật đất đai của ta nhiều năm qua cũng đã đi theo hướng nới rộng hạn điền. Hạn điền theo Luật đất đai 1993 đã trở thành hạn mức giao đất của Nhà nước cùng với hạn mức nhận chuyển quyền (khoảng gấp đôi hạn mức giao đất) trong Luật đất đai 2003. Mặt khác, trên thực tế hệ thống quản lý đất đai của ta không phát hiện được và cũng không có chế tài xử lý các trường hợp vượt hạn điền.

Việc xóa bỏ hạn điền cũng là cần thiết, điều đó sẽ giúp người nông dân có điều kiện hình thành các trang trại lớn, yên tâm đầu tư chiều sâu, nông nghiệp sẽ phát triển mạnh hơn. Để tránh hiện tượng hình thành tầng lớp “địa chủ” mới, chúng ta cũng vẫn giải quyết được bằng chính sách thuế, bằng các chế tài thu hồi đối với đất đã phát canh thu tô, quy định cụ thể về phân chia địa tô, đừng giải quyết bằng hạn điền vì không hiệu quả.

“Tam nông” hiện đang cần những chính sách đất đai phù hợp hơn, tạo động lực lớn hơn để người nông dân yên tâm tự đầu tư sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu. Vậy hãy trao cho nông dân cơ hội làm giàu trên đồng ruộng. Để làm được điều đó, về mặt chính sách đất đai, Nhà nước cần xóa hạn điền, xóa thời hạn trong sử dụng đất nông nghiệp, mở ra nhiều kênh tín dụng phù hợp cho nông dân để phát triển sản xuất, tạo điều kiện để người nông dân dễ dàng tiếp cận với công nghệ và dịch vụ, hỗ trợ người nông dân trực tiếp tham gia thị trường.

Vụ việc ở Tiên Lãng (Hải Phòng) là một ví dụ điển hình về tiêu cực khi thu hồi đất hết thời hạn mà trên đất đó những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã bỏ quá nhiều vốn liếng, công sức ra đầu tư dài hạn. Nhiều bài học về chính sách đất đai rất cần được rút ra thấu đáo từ những đau lòng này.

 

Ở các nước phát triển đều không có thời hạn và hạn điền đối với đất nông nghiệp. Nông dân được tạo điều kiện hết mức để ổn định sản xuất, khuyến khích đầu tư dài hạn theo chiều sâu, con em nông dân được tạo điều kiện học tập nghiên cứu để sau đó quay trở về nông thôn, đồng ruộng tiếp tục làm nghề nông. Con em họ thường theo truyền thống gia đình, không ly nông ly hương chạy vào đô thị.

Những nước có nền nông nghiệp phát triển đã tạo cho người nông dân sự yên tâm với nghề nông, có được thu nhập cao từ nghề nông và con em họ vẫn tiếp tục chí thú với nghề nông. Trong khi ở nước ta, con em nông dân mà giỏi giang một chút là chạy vào đô thị để tìm kiếm cơ hội thu nhập cao, không bao giờ muốn quay về đồng ruộng.

Những người làm nông nghiệp là cha là mẹ cũng khuyến khích con em họ quay lưng lại với nghề nông để tránh cuộc sống lam lũ. Chúng ta luôn luôn làm cho “tam nông” bị hẫng hụt mà cái hẫng hụt đầu tiên là về nhân lực – cái hụt khó bù đắp nhất.

 

GS.TSKH ĐẶNG HÙNG VÕ

 

 

 

Check Also

Hàng không mẫu hạm Mỹ tại Đà Nẵng

  Hàng không mẫu hạm Mỹ tại Đà Nẵng 6 tháng 3 2018 Hàng không …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *