Tuesday, September 18, 2018

Biên giới Việt – Trung


Notice: Undefined index: tie_hide_meta in /var/www/html/wp-content/themes/sahifa/framework/parts/meta-post.php on line 3

Biên giới Việt – Trung

 

Biên giới Việt -Trung và hơn nửa thế kỷ đàm phán
,

VietNamNet- Đường biên giới được thể hiện trong Nghị định thư phân giới cắm mốc mà hai nước Việt – Trung công bố có hiệu lực hôm nay (14/7) là thành quả của hơn nửa thế kỷ quan tâm giải quyết của Đảng và Chính phủ hai nước (từ 1957 đến 2010).

>> Việt-Trung công bố các hiệp định về biên giới có hiệu lực
>> Sau 36 năm, Việt -Trung giải quyết xong biên giới đất liền

36 năm, từ 1974 đến 2010, Việt Nam và Trung Quốc đã trải qua 4 đợt đàm phán lớn với hàng ngàn cuộc đàm phán các cấp, trong đó đợt đàm phán cuối cùng dài nhất với 19 năm nỗ lực liên tục trên đàm phán và thực địa nhằm hoạch định và phân giới cắm mốc biên giới giữa hai nước. Cần kể đến các dấu mốc 1991 – 1999: đàm phán, ký Hiệp ước biên giới trên đất liền; 2000 – 2008 đàm phán, phân giới, cắm mốc trên thực địa; 2008 – 2010 đàm phán xây dựng Nghị định thư PGCM và các hiệp định liên quan.

Mô tả ảnh.
Trao đổi công hàm thông báo Nghị định thư phân giới cắm mốc và các văn kiện liên quan ngày 14/7/2010. Ảnh: NHT

Việc thực hiện 3 văn kiện sẽ mở ra cơ hội mới cho công cuộc phát triển của mỗi nước, tạo điều kiện cho các địa phương hai bên biên giới mở rộng hợp tác, phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu hữu nghị. 

Tôn trọng lịch sử

Ngày 2/11/1957, Ban Bí thư TƯ Đảng Lao động Việt Nam gửi thư cho Ban Chấp hành TƯ Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị hai bên giải quyết vấn đề biên giới trên cơ sở tôn trọng đường biên giới lịch sử do hai Công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 để lại và mọi tranh chấp có thể giải quyết bằng đàm phán.

Tháng 4/1958, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc có thư đồng ý với đề nghị của phía Việt Nam nhưng hai nước đã không có điều kiện triển khai do chiến tranh trên đất nước Việt Nam (1954 – 1975). Sau Hiệp định Paris năm 1973, tháng 1/1974, hai nước mới tiến hành đàm phán hoạch định biên giới.

Ngày 19/10/1993, hai đoàn đàm phán Chính phủ đã ký Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ, phần nói về biên giới trên bộ quy định: "Hai bên đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Trung Quốc và Pháp ngày 26/6/1887 và Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới ngày 20/6/1895 cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định và cắm mốc biên giới kèm theo đã được Công ước và Công ước bổ sung nói trên xác nhận hoặc quy định, cũng như các mốc quốc giới cắm theo quy định, đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên bộ giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc".

Giai đoạn ba của xác lập đường biên giới là đối chiếu hoàn chỉnh hồ sơ mốc giới, các văn bản pháp lý để đi đến ký kết Nghị định thư PGCM mô tả chi tiết đường biên mốc giới. Chuyên gia hai bên đã kiểm tra đối chiếu và in toàn bộ văn kiện: Nghị định thư PGCM (934 trang), bộ bản đồ đính kèm (80 tờ) và các phụ lục kèm theo (bảng đăng ký mốc giới 3960 trang, bảng tọa độ và độ cao mốc giới 222 trang, bảng kê sự quy thuộc các cồn bãi 16 trang).

Đến ngày 31/12/2008, hai bên đã hoàn thành công tác PGCM trên thực địa và thống nhất xác lập biên giới tại thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân. Ngày 18/11/2009, Chính phủ hai nước đã ký kết 3 văn kiện: Nghị định thư phân giới, cắm mốc; Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu giữa hai Chính phủ.

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hai bên tiến hành công tác phân giới cắm mốc, xác định một đường biên giới rõ ràng, được đánh dấu bằng hệ thống mốc giới chính quy hiện đại, thuận lợi cho quản lý trên thực địa. 

Mô tả ảnh.
Mốc 1378 cuối cùng ở cửa sông Bắc Luân. Ảnh: NHT

Nghị định thư PGCM cũng lần đầu tiên quy định rõ ràng các cồn bãi trên sông suối quy thuộc giữa hai nước. Phù hợp với luật pháp quốc tế, sau khi Nghị định thư này có hiệu lực, bất kỳ sự thay đổi của địa hình, sông suối thực địa đều không làm thay đổi vị trí của đường biên giới đã phân giới, trừ khi hai Bên có thỏa thuận khác. Đường biên giới sẽ được tiến hành kiểm tra liên hợp 10 năm một lần để bảo dưỡng duy trì sửa chữa mốc giới. 

Hợp tác khai thác du lịch thác Bản Giốc 

Nhằm tạo sự thuận lợi cho tàu thuyền hai bên qua lại khu vực cửa sông Bắc Luân và hợp tác khai thác tiềm năng du lịch khu vực thác Bản Giốc, hai bên tiến hành đàm phán và sẽ ký kết Hiệp định về quy chế tự do đi lại của tàu thuyền ở khu vực cửa sông Bắc Luân và Hiệp định hợp tác khai thác tiềm năng du lịch thác Bản Giốc trong thời gian tới.

 

Toàn bộ đường biên giới Việt – Trung dài 1449,566km (trong đó đường biên giới trên đất liền 1065,652km, đường biên giới nước 383,914km) được đánh dấu bằng 1971 cột mốc (Một vị trí trên thực địa có thể được đánh dấu bằng 1, 2 hoặc 3 mốc tùy theo quy định và thực địa).

Nghị định thư và các văn kiện đính kèm gồm bộ bản đồ địa hình khu vực biên giới Việt – Trung, có thể hiện đường biên giới và vị trí các mốc giới (35 mảnh); tập "Bảng đăng ký mốc giới"; tập "Bảng tọa độ, độ cao mốc giới" và tập "Bảng quy thuộc các cồn, bãi trên sông suối biên giới" cùng với Hiệp ước hoạch định biên giới đất liền Việt – Trung là bộ Hiệp định biên giới đầy đủ nhất, lớn nhất, phù hợp với luật pháp quốc tế mà Việt Nam ký với một nước láng giềng trong lịch sử của mình và sẽ được lưu chiểu tại Liên hợp quốc theo quy định của luật quốc tế.

 

Để quản lý biên giới hai nước trong thời kỳ mới, phù hợp với Nghị định thư PGCM, hai bên đã ký kết Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới, Hiệp định về cửa khẩu và quản lý cửa khẩu, thay thế "Hiệp định tạm thời về việc giải quyết các công việc trên vùng biên giới hai nước giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa" ký ngày 7/11/1991.

Hiệp định về cửa khẩu và quản lý cửa khẩu quy định rõ hệ thống cửa khẩu song phương và cửa khẩu quốc tế cùng chế độ pháp lý của chúng.

Hai bên xác nhận 9 cặp cửa khẩu quốc tế đã được mở trên vùng biên giới gồm Ma Lù Thàng – Kim Thủy Hà, Lào Cai – Hà Khẩu (đường bộ), Lào Cai – Hà Khẩu (đường sắt), Thanh Thủy – Thiên Bảo, Trà Lĩnh – Long Bang, Tà Lùng – Thủy Khẩu, Đồng Đăng – Bằng Tường (đường sắt), Hữu Nghị – Hữu Nghị Quan, Móng Cái – Đông Hưng và tên 13 cửa khẩu khác sẽ được mở khi có đủ điều kiện, thời gian và thể thức mở cụ thể sẽ do hai bên thỏa thuận qua đường ngoại giao.

Hiệp định quy chế quản lý biên giới với 11 chương và 54 điều quy định cụ thể nội dung các hoạt động trên biên giới, các công trình biên giới, chế độ qua lại biên giới, chế độ kiểm tra, hợp tác giải quyết các vụ việc biên giới. Hiệp định đã tiếp thu các kinh nghiệm quản lý biên giới giữa hai nước trong nửa thế kỷ qua, các Hiệp định quy chế quản lý biên giới hai nước đã ký với các nước láng giềng như Hiệp định quy chế quản lý biên giới Việt – Lào 1977, Hiệp định quy chế quản lý biên giới Trung – Nga 2008.

Nội dung của Hiệp định mang tính hiện đại, đáp ứng được các yêu cầu mới, đặc biệt các quy định mới về cơ chế tổ chức quản lý thông qua các Đại diện biên giới. Toàn tuyến biên giới sẽ được chia làm 8 đoạn do 8 đại diện biên giới quốc gia của mỗi bên cử ra nhằm hợp tác quản lý tốt đường biên giới.

Hoàn thành PGCM, xác lập biên giới bằng các điều ước quốc tế và ký kết các văn bản pháp lý quản lý biên giới đất liền cho thấy mối quan hệ láng giềng đoàn kết hữu nghị giữa hai nước đã bước thêm một bước vững chắc trên tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai và trên cơ sở tin cậy lẫn nhau. Hai trong ba vấn đề biên giới do lịch sử để lại trong quan hệ Việt – Trung là đường biên giới đất liền và Vịnh Bắc Bộ đã được giải quyết.

Kinh nghiệm cho giải quyết tranh chấp Biển Đông

Các bài học trong giải quyết phân định Vịnh Bắc Bộ và biên giới đất liền sẽ là kinh nghiệm quý báu cho hai nước cũng như các nước có liên quan hợp tác tìm một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển của Liên hợp quốc năm 1982.

Các Hiệp định này tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành chức năng của cả hai bên tiến hành quản lý biên giới một cách khoa học, hiệu quả, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của nhau, ngăn ngừa hiện tượng xâm canh, xâm cư, vượt biên trái phép, xây kè lấn chiếm và các vi phạm khác do thiếu hiểu biết về đường biên giới.

Một đường biên giới ổn định sẽ tạo điều kiện cho hai nước thực hiện các kế hoạch hợp tác phát triển kinh tế lớn hơn như dự án đường cao tốc Vân Nam – Lào Cai – Xuyên Á, chương trình một trục hai cánh, Vịnh Bắc Bộ mở rộng, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Bằng Tường, khu du lịch thác Bản Giốc…

Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ 2000, Hiệp ước hoạch định biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc 1999, Nghị định thư về PGCM, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới; Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu trên biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc 2009 cho thấy thiện chí và quyết tâm của Việt Nam sẵn sàng giải quyết mọi tranh chấp về biên giới lãnh thổ, các vùng biển và thềm lục địa với các nước láng giềng trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.

  • Nguyễn Hồng Thao
,

Check Also

Quyền Bộ trưởng TT&TT muốn phát triển mạng xã hội ‘made in Vietnam’

(LTS. Bài có số liệu về người dùng và lợi nhuận của Facebook, Google ở …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *